vanban.org

Bản án 212/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Bùi Hồng D 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo giao nộp lại số tiền 300.000 đồng thu nhập bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước. Về vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh dương (vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Hồng D 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nguyên

2/ Ông Nguyễn Thanh Bình

Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Kiều Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2023/TLST/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Hồng D; giới tính: Nam; sinh năm 2003, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Bùi Hồng T; họ tên mẹ: Lê Thị Tố N; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Võ Đông G, sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: F12/4 tổ N, ấp X, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Hoàng Gianh C, sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: 4/2 khu phố H, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

3/ Bà Lê Thị Kim H, sinh năm: 1975 (vắng mặt)

Nơi cư trú: E6/18A ấp N, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Bà Nguyễn Thị Trà B, sinh năm: 1999 (vắng mặt).

Nơi cư trú: 1372 đường C, ấp X, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 2000 (vắng mặt).

Nơi cư trú: 145/2 khu phố H, phường N, thành phố T, tỉnh Đồng Nai.

6. Bà Lê Thị Tố N, sinh năm 1976 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/8/2022, Bùi Hồng D dùng tài khoản Facebook tên “Hồng D TD” vào các trang mạng xã hội chuyên bán xe mô tô để tìm mua xe. Khi thấy người dùng Facebook tên “Xiêng An” đang rao bán xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển số: 59N2-983.41 thì D chủ động nhắn tin cho “Xiêng An” hỏi mua xe mô tô trên. “Xiêng An” yêu cầu D cho số điện thoại để kết bạn Zalo. D đồng ý và kết bạn Zalo với tài khoản tên “An An” để thỏa thuận mua bán xe mô tô trên thông qua Zalo của D là “D TD”. Sau đó, hai bên nhắn tin trao đổi “An An” nói rõ với D là xe mô tô không giấy tờ, D yêu cầu “An An” chụp ảnh ổ khóa xe cho D xem nếu xe bị bẻ khóa thì D sẽ che lại khi di chuyển trên đường về tránh bị phát hiện. D có nhắn tin hỏi thêm “An An” xe có biển số chưa và thay đổi dàn áo chưa thì “An An” cho biết là xe đã thay biển số còn dàn áo vẫn giữ nguyên. Lúc này, D hoàn toàn biết xe mô tô trên là xe trộm cắp mà có. D tiếp tục thỏa thuận với “An An” và đồng ý mua xe mô tô trên với giá 7.500.000 đồng. D và “An An” hẹn giao dịch xe ở huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Do “An An” dẫn D đi qua nhiều tuyến đường nên D không nhớ rõ địa chỉ giao dịch cụ thể. Khi giao dịch với “An An” bằng tiền mặt xong D mang xe về tiếp tục đăng ảnh lên Facebook với tên tài khoản là “Truong Ady” rao bán xe này với giá 11.000.000 đồng. Khoảng 07 giờ ngày 25/8/2022, ông Võ Đông G dùng tài khoản Facebook tên “Võ Ghi” phát hiện trên nhóm công khai “Chợ mua bán xe Sài Gòn” có bài đăng bán xe của D giống với chiếc xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 60F2-800.34, số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366 của anh Giang bị mất trộm vào ngày 23/8/2022 tại trước địa chỉ F12/4 tổ 22, ấp 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh nên ông G nhắn tin cho D hỏi mua xe máy trên với giá 10.000.000 đồng và hỗ trợ thêm 500.000 đồng tiền xăng. D đồng ý và kêu chuyển số tiền 300.000 đồng vào số tài khoản 070123277341 thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), tên tài khoản là Lê Thị Tố N (mẹ của D) để đặt cọc.

Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô trên đến đoạn Hương lộ 80, Phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân thì D hẹn ông G đến trước địa chỉ F9/18M tổ 5, ấp 6A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh để bán xe. Khi đến nơi, ông G kiểm tra, phát hiện đây là xe của ông G bị mất trộm nên đã giữ xe và D lại, đồng thời báo Công an xã Vĩnh Lộc A đưa về trụ sở làm việc.

Kết luận giám định số 19153/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366 của xe mô tô gắn biển số 59N2-98341 là không thay đổi.

Kết quả trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 13/12/2022 của Công an huyện Bình Chánh xác định xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 60F2-800.34 có số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366, chủ sở hữu là ông Hoàng Gianh C. Ông C khai nhận chiếc xe này ông đứng tên trên giấy đăng ký xe giúp bà Nguyễn Thị Thùy T. Bà T khai nhận năm 2020, bà đã cầm chiếc xe này cho tiệm cầm đồ (không nhớ được địa chỉ) với giá 25.000.000 đồng và bỏ xe không chuộc lại. Ông Võ Đông G cho biết chiếc xe này ông mua của một người không rõ lai lịch vào khoảng tháng 6/2022 với giá 21.000.000 đồng, ông có giữ giấy đăng ký xe nhưng không làm hợp đồng mua bán. Qua tra cứu vật chứng tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả xe mô tô biển số 60F2-800.34, có số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.

Kết luận giám định số 5657/KL-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận biển số 59N2-983.41 là biển số thật. Qua tra cứu, biển số 59N2-983.41 của xe mô tô Honda hiệu Vision, chủ sở hữu là bà Lê Thị Kim H. Bà Hiền khai nhận đã giao chiếc xe này cho cháu ruột là bà Nguyễn Thị Trà B sử dụng. Bà Băng trình bày đã bị mất xe vào ngày 21/8/2022.

Kết luận định giá tài sản số 3504/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: Giá trị còn lại của 01 xe Honda Winner, biển số 60F2-800.34 là 24.750.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Bùi Hồng D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 điện thoại di động hiệu Realme mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh dương thu giữ của bị cáo.

01 xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 59N2-983.41 (biển số thật là 60F2-800.34), có số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366.

Tại bản Cáo trạng số 213/CT - VKS ngày 22 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Hồng D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Hồng D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm ăn sinh sống nuôi gia đình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Xử phạt bị cáo Bùi Hồng D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo nộp lại số tiền 300.000 đồng thu nhập bất chính để sung ngân sách Nhà nước.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, lời khai cùng các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ thể hiện không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Hồng D tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 61 - 78); phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, kết quả định giá tài sản…cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 24/8/2022, bị cáo có hành vi mua lại xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 59N2-983.41 (biển số thật là 60F2-800.34) của một người đàn ông không rõ lai lịch trên mạng xã hội Facebook với tài khoản là tên “Xiêng An”. Khi mua xe bị cáo biết rõ xe mô tô trên là do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với mục đích là bán lại lấy tiền lời. Đến khoảng 20 giờ 20 phút ngày 25/8/2022, khi bị cáo đang chạy xe đến trước địa chỉ F9/18M tổ 5, ấp 6A, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh để bán xe cho người khác thì bị phát hiện bắt giữ. Theo Kết luận định giá tài sản số 3504/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh thì xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 60F2-800.34 có giá trị là 24.750.000 đồng.

Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Hồng D đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là hám lời muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Đối với đối tượng tên “Xiêng An” và “An An” bán xe cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

[6] Đối với bà Lê Thị Tố N là mẹ của bị cáo sau khi đăng ký tài khoản Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Tiền Giang thì đưa cho bị cáo sử dụng, bà N không biết bị cáo sử dụng vào mục đích gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở xử lý.

[7] Đối với vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 23/8/2022 tại trước địa chỉ F12/4 tổ 22, ấp 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định khởi tố vụ án và tách vụ án để giải quyết theo thẩm quyền. Do thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với điện thoại di động hiệu Realme mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh dương thuộc quyền sở hữu của bị cáo nhưng bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử không xét trả lại cho bị cáo mà tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 59N2-983.41 (biển số thật là 60F2-800.34), có số khung RLHKC2603GY321545, số máy KC26E1167366. Vật chứng này đã được tách ra cùng hồ sơ vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 23/8/2022 tại trước địa chỉ F12/4 tổ 22, ấp 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh để tiếp tục điều tra, xử lý Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 300.000 đồng ông G chuyển vào tài khoản của bị cáo để đặt cọc mua bán xe, đây là tiền thu nhập bất chính buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 323; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Bùi Hồng D 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo giao nộp lại số tiền 300.000 đồng thu nhập bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme mặt trước màu đen, mặt sau màu xanh dương (vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao nhận tang tài vật được lập vào ngày 18/8/2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).

Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ