- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2021/HS-ST Ngày: 01-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Phước Trinh.
2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 227/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Hữu Th, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm: 1966 và bà Đặng B, sinh năm: 1968; anh, chị, em ruột: 03 người, kể cả bị cáo; có vợ Phan Thị Thanh Th1, sinh năm: 1999 và 01 con tên Đặng Phan Thanh H, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 27/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự số: 265/2013/HSST; đến ngày 31/8/2015 chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận đặc xá số: 791/GCNĐX của Giám thị Trại giam Mỹ Phước. Ngày 14/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định số: 74/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng; đến ngày 23/5/2020 chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận số: 212/GCN-CSPV ngày 06/4/2020 của Giám đốc Cơ sở Cai nghiện Ma túy – Bảo trợ Xã hội Phú Văn.
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 16/6/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1965; địa chỉ: Tổ 6, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)
2/ Ông Lê Nguyễn Minh Ph, sinh năm: 2001; địa chỉ: Tổ 4, Khu phố 8, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/6/2021, bị cáo Đặng Hữu Th đang ở nhà của bị cáo tại địa chỉ: Số 159 Đường số 42, ấp T, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo dùng điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo liên lạc vào số thuê bao di động 0397555326 hỏi mua của một người nam thanh niên tên Chung (không rõ lai lịch) 01 (một) gói ma túy với số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), Chung đồng ý và hẹn địa điểm giao tiền và nhận chất ma túy tại khu vực phía trước nhà thờ Tân Thông Hội thuộc ấp Tân Tiến, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thỏa thuận xong, bị cáo gọi điện thoại cho một người nam thanh niên tên Thái (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết xã hội để hỏi mượn chiếc xe gắn máy của Thái. Một lúc sau, Thái điều khiển xe gắn máy (không rõ biển số) đến nhà của bị cáo thì bị cáo liền điều khiển xe gắn máy của Thái từ nhà của bị cáo đến địa điểm hẹn để mua chất ma túy. Tại đây, bị cáo gặp và đưa cho Chung số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) và Chung đưa lại cho bị cáo 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là ma túy rồi điều khiển xe gắn máy (không rõ biển số) bỏ đi. Bị cáo cầm lấy gói ma túy bỏ vào bên trong túi áo phía trước bên phải của bị cáo đang mặc rồi điều khiển xe gắn máy đi về trả cho Thái. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Satria biển số: 59Y3-594.94 đi từ nhà của bị cáo đến khu vực bãi đất trống thuộc Khu phố 6, thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để trả tiền cho một người nam thanh niên tên Cò (không rõ lai lịch). Trong lúc bị cáo đứng đợi Cò, thì bị Công an thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra và phát hiện ở bên trong túi áo phía trước bên phải của bị cáo đang mặc có 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 18 giờ 25 phút cùng ngày. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của bị cáo Th không phát hiện, thu giữ gì thêm.
Vật chứng thu giữ (Bút lục 68-69):
- 01 gói niêm phong mang số vụ 4046/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 352017/04251961/9, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc gắn máy hiệu Suzuki Satria màu xanh, đen biển số: 59Y3 – 594.94, số khung: MH8DL11AZLJ218295; số máy: CGA1ID218226, đã qua sử dụng.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với bị cáo Th xác định dương tính với chất ma túy tổng hợp (Bút lục 04).
Tại Kết luận giám định số: 4046/KLGĐ-H ngày 25/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đặng Hữu Th và hình dấu Công an thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi gửi đến giám định, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0392g (một phẩy không ba chín hai gam), loại Methamphetamine (Bút lục 47).
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 4046/KLGĐ-H ngày 25/6/2021.
Bản cáo trạng số 230/CT-VKS.CC ngày 05/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Đặng Hữu Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0392g (một phẩy không ba chín hai gam), loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Th từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 4046/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 352017/04251961/9, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Satria màu xanh đen, biển số: 59Y3 – 594.94, số máy: CGA1ID218226, số khung: MH8DL11AZLJ218295, đã qua sử dụng.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Th đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0392g (một phẩy không ba chín hai gam), loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang vào lúc 18 giờ 25 phút ngày 16/6/2021, tại khu vực bãi đất trống thuộc Khu phố 6, thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Th là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Hữu Th đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Th là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm móng phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Th có nhân thân xấu. Ngày 27/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự số: 265/2013/HSST; đến ngày 31/8/2015 chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận đặc xá số: 791/GCNĐX của Giám thị Trại giam Mỹ Phước. Ngày 14/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ra Quyết định số: 74/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng; đến ngày 23/5/2020 chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận số: 212/GCN-CSPV ngày 06/4/2020 của Giám đốc Cơ sở Cai nghiện Ma túy – Bảo trợ Xã hội Phú Văn, đã xóa án tích. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật và thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo bất chấp phạm tội.
Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo Th làm công nhân nhưng công việc không ổn định có thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 4046/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 352017/04251961/9 của bị cáo Th dùng liên lạc để mua ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
Đối với 01 chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Satria màu xanh đen, biển số: 59Y3 – 594.94, số máy: CGA1ID218226, số khung: MH8DL11AZLJ218295 là phương tiện đi lại cá nhân của bị cáo Th, không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo Th.
Đối với đối tượng Chung (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau; Viện kiểm sát không ý kiến; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.
Đối với đối tượng tên Thái (không rõ lai lịch) không biết bị cáo Th mượn xe của mình để đi mua trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi loại khỏi vụ án; Viện kiểm sát không ý kiến; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.
Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Đặng Hữu Th 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2021.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 4046/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra (BL 47-48).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 352017/04251961/9, đã qua sử dụng (BL 68-69).
Trả lại cho bị cáo Đặng Hữu Th 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Satria màu xanh đen, biển số: 59Y3 – 594.94, số máy: CGA1ID218226, số khung: MH8DL11AZLJ218295, đã qua sử dụng (BL 68-69).
- Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc các bị cáo Đặng Hữu Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THA DS huyện Củ Chi; - Bị cáo; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. (20 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |