- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S Địa chỉ trụ sở: Số 266 – 268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: Ông…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2019/DS-ST Ngày 26 –11 – 2019 “V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Cẩm Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Dân
2. Ông Võ Thanh Liêm
.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 378/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 854/2019/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ trụ sở: Số 266 – 268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Yến N, sinh năm: 1991, chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ tín dụng tiêu dùng – Phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín chi nhánh Cà Mau đại diện (theo văn bản ủy quyền số 512/2019/UQ-CNCM, ngày 28/8/2019) (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 31 ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/4/2017, ông Nguyễn Văn C đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1125408, đề nghị Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) chi nhánh Cà Mau cấp thẻ tín dụng Visa Platinum hạn mức 100.000.000đ, thỏa thuận lãi suất tại thời điểm cấp thẻ tín dụng là 2,5%/tháng, ông C thống nhất bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng cùng với nội dung theo Giấy đề nghị nêu trên. Trên cơ sở đề nghị của ông C, Ngân hàng đã đồng ý cấp tín dụng cho ông C hạn mức 100.000.000đ vào ngày 15/6/2017. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch thẻ Visa Platinum với tổng số tiền 100.000.000đ. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông C đã thực hiện nhiều giao dịch đến ngày 05/02/2019, thì ôngC không nạp tiền vào thẻ và không đóng lãi đến nay.
Tính đến ngày 26/11/2019, ôngC còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 136.733.000 đồng (trong đó 100.000.000 đồng vốn gốc, lãi trong hạn 24.489.000 đồng, lãi quá hạn 12.244.000 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông C thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi với số tiền 136.733.000 đồng và yêu cầu ông C tiếp tục thanh toán lãi phát sinh với mức lãi suất theo hợp đồng đã ký từ ngày 27/4/2019 đến khi thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.
- Tại đơn xin hoãn phiên tòa ngày 25/11/2019 ông Nguyễn Văn C trình bày: ông xác định là bị đơn trong vụ án dân sự về việc vay tài sản giữ ông và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, do ông bận công việc nên ông xin hoãn phiên tòa để ông thực hiện quyền tham gia phiên tòa lần sau của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện và yêu cầu ông Nguyễn Văn C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ tín dụng cho Ngân hàng, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về dân sự, mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông C có địa chỉ cư trú tại thành phố Cà Mau nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ôngC đến Tòa án để tham gia phiên tòa từ giai đoạn thông báo thụ lý, hòa giải và công khai chứng cứ, đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng ôngC vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ôngC là đúng theo quy định khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Các đương sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định có lãi suất. Hợp đồng vay tài sản các đương sự đã ký kết dưới hình thức phát hành thẻ Visa, việc mở thẻ được thiết lập trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận của Ngân hàng và ôngC, phù hợp với quy định pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng đã ký do đó Ngân hàng yêu cầu thanh lý hợp đồng là có căn cứ.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thấy rằng tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng do ôngC đề nghị ngày 27/4/2017, được duyệt cấp thẻ ngày 15/6/2017, thiết lập giữa Ngân hàng với ôngC, ôngC được cấp hạn mức tín dụng 100.000.000đ. Ông C đã rút tiền lần đầu tiên vào ngày 15/6/2017 với số tiền 96.165.500đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ôngC có thanh toán vốn và lãi hàng tháng và thực hiện giao dịch nhiều lần, đến ngày 15/6/2019 thì ngưng thanh toán cho đến nay. ÔngC đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán liên tiếp nhiều kỳ theo quy định tại các điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Tính đến ngày 26/11/2019, ôngC còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 136.733.000 đồng (trong đó 100.000.000 đồng vốn gốc, lãi trong hạn 24.489.000 đồng, lãi quá hạn 12.244.000 đồng). ÔngC biết rõ việc ngân hàng khởi kiện ông và ôngC có đơn yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa xét xử lần đầu, nhưng ôngC cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ôngC thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi với số tiền 136.733.000 đồng và yêu cầu ông C tiếp tục thanh toán lãi phát sinh với mức lãi suất theo hợp đồng đã ký từ ngày 27/4/2019 đến khi thanh toán dứt điểm nợ cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán nợ cho Ngân hàng nên ôngC phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã dự nộp theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền 136.733.000 đồng (trong đó 100.000.000 đồng vốn gốc, lãi trong hạn 24.489.000 đồng, lãi quá hạn 12.244.000 đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn C tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khoản lãi phát sinh theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng do ôngC đề nghị ngày 27/4/2017.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn C phải chịu 6.836.000đ (chưa nộp). Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí. Ngày 10/9/2019, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã nộp tạm ứng án phí số tiền 3.142.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (theo biên lai số 0000737) được nhận lai toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn C vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã Ký Đinh Cẩm Đào |