vanban.org

Bản án 212/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt: Cao Minh H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 21-10-2016). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Minh H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2017/HSST
Ngày 28 tháng 8 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Quảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Duy Hiền

2. Ông Nghiêm Thế H

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 89/2017/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2017, đối với bị cáo:

Cao Minh H, sinh ngày 29-8-1997, tại Gia Lai.

Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn 1, thị trấn Ph H, huyện Ch P, Gia Lai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Cao Minh S và bà Trương Thị Mai H;

Tiền sự: Không; tiền án: 1 lần. Tại Bản án số 30/2014/HSST ngày 29-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện Ch P, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29-6-2016. Ngày 19-10-2016 cùng đồng phạm thực hiện hành vi “Giết người”, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố. Từ ngày 21-10-2016 bị cáo bị giam tại Trại tạm giam T20, Công an tỉnh Gia Lai cho đến nay. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

- Người bị hại: Anh Nguyễn Phi D, sinh năm 1993; Địa chỉ: số 268/1 H V, Tổ 01, phường H Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị S, sinh năm 1941; Địa chỉ: Thôn 01, thị trấn Ph H, huyện Ch P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Những người làm chứng:

1. Anh Lò Văn Tr, sinh năm 1995; Địa chỉ: số 151/36 Ph Đ G, Tổ 17, phường H Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2. Anh Phạm Bá Th, sinh năm 1994; Địa chỉ: số 117/1 P H Hưng, Tổ 13, phường H Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

3. Anh Vũ Khánh Đ, sinh năm 1989; Địa chỉ: Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

4. Anh Thái Minh H, sinh năm 1993; Địa chỉ: 33/18 Sư Vạn Hạnh, Tổ 02, phường H Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: 268/1 H V, Tổ 01, phường H Th, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Cao Minh H bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 03-9-2016, Cao Minh H điều khiển xe mô tô đến dãy nhà trọ số 268/1 đường H V, Tổ 1, phường H Th, thành phố P để vào phòng trọ số 3 của bạn tên Thi, để lấy thẻ nhớ điện thoại. Khi đến nơi thì gặp Nguyễn Phi D cùng nhóm bạn của D đang ngồi uống bia giữa hai dãy phòng trọ, chắn hết lối đi. Lúc này, anh D nói với H uống một ly bia rồi mới được đi qua. H uống một ly bia rồi vào phòng trọ của Thi lấy thẻ nhớ điện thoại. Khi H đi ra thì tiếp tục bị nhóm thanh niên trên chặn đường lại và anh D nói H uống thêm một ly bia nữa mới được ra về. H uống hết một ly bia rồi đi. Khi H đi, thì nghe thấy có tiếng chửi phía sau, H quay lại thì thấy D đang chỉ tay về phía mình và chửi nên H và anh D xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. H đi về phòng trọ của mình ở hẻm 35 Trần Nhật Duật, phường Ia Kring, thành phố P, nghĩ lại chuyện bị D bắt uống bia và chửi nên H bực tức nảy sinh ý định trả thù anh D. H lấy 01 (một) dao Thái Lan cán vàng, mũi nhọn, dài khoảng 25cm giấu vào trong người, sau đó gọi điện thoại cho bạn là Vũ Khánh Đ và nói: “Có người đòi đánh em ở dưới gần quán cà phê Trung Nguyên đường H V, anh xuống đường H V với em”. Lúc này Vũ Khánh Đ đang ngồi uống rượu cùng với Lò Văn Tr và Phạm Bá Th, nên Đức rủ cả Truyền và Thanh cùng đi đến hẻm 268/1 H V. Đến nơi, thì Phạm Bá Th gặp D và nhận ra là bạn bè cùng học cấp II nên đã bắt tay hòa giải và tất cả đi về. H đi được một đoạn thì quay lại nói với anh D: “Lúc nãy mày sai chứ tao không sai”. Sau đó, giữa D và H tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, thì H rút dao Thái Lan đang giấu trong người ra đâm nhiều nhát về phía anh D, làm anh D bị thương, được mọi người đưa đến Bệnh viện Đại học Y Dược Hoàng Anh Gia Lai cấp cứu và điều trị. Đến ngày 13-9-2016 anh D xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 225/TTPY ngày 31-10-2016 của Trung tâm pháy y tỉnh Gia Lai, kết luận về thương tích của anh D như sau:

“Sáu sẹo vết thương phần mềm: Vết lớn nhất 2,5cm x 0,4cm, vết nhỏ nhất 1,5cm x 0,2cm, sẹo liền: 4% (MI.2-T63).

Đứt gân gấp ngón II, III tay trái sau điều trị phẫu thuật khâu nối ảnh hưởng ít đến động tác gấp ngón tay: 1% (M 5.3-T49).

Gãy đầu xa đốt 2 ngón IV tay trái đã kết hợp xương bằng xuyên đinh (còn dụng cụ kết hợp xương): 1% (M7.3-T52).

Tổn thương màng phổi, đã phẫu thuật dẫn lưu màng phổi không để lại di chứng: 3% (M III.1-T24).

Tổn thương thủng cơ hoành 3 cm, sau phẫu thuật khâu cơ hoành kết quả tốt: 21% (M V.2-T26).

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 28%. Áp dụng phương pháp cộng lùi theo Thông tư 20/2014/TT-BYT”.

Tại bản Cáo trạng số 97/CTr-VKS ngày 21 tháng 6 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Cao Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự, với hai tình tiết định kung quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138; Điều 33; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Cao Minh H từ 36 tháng từ đến 42 tháng tù; đề nghị Hội đồng xét xử xử buộc bị cáo bồi thường dân sự cho người bị hại Nguyễn Phi D.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cao Minh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, thể hiện: Khoảng 0 giờ ngày 04-9-2016, tại khu vực phòng trọ số 268/1 đường H V, Tổ 1, phường H Th, thành phố Plieku, Gia Lai, Cao Minh H đã có hành vi dùng dao Thái Lan đâm nhiều nhát vào người của bị hại Nguyễn Phi D. Hậu quả làm anh D bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ là 28%. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cao Minh H có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo dùng dao, là hung khí nguy hiểm, gây thương tích làm tổn hại 28% sức khỏe của bị hại, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Lời khai của bị cáo Cao Minh H và những người làm chứng (là những người bạn của Nguyễn Phi D, ngồi uống bia cùng anh D), cho thấy anh Nguyễn Phi D đã có hành vi ép buộc bị cáo uống bia, cản trở việc bị cáo đi vào và ra khỏi phòng trọ. Đây là hành vi xử sự không đúng, không phù hợp, dẫn đến phát sinh mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại, là nguyên nhân tác động dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cho nên, hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P kết luận.

Trong vụ án này, mâu thuẫn giữa bị cáo với bị hại đã được hai bên hòa giải, chấm dứt. Nhưng bị cáo vẫn quay trở lại, gặp anh D với công cụ phạm tội (dao Thái Lan) đã chuẩn bị từ trước, để gây thương tích, nên hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp “bị kích động về tinh thần”.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sửa khỏe, tính mạng của người khác, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, nên cần xử lý nghiêm.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Cao Minh H đã có một tiền án, tại Bản án số 30/2014/HSST ngày 29-12-2014 Tòa án nhân dân huyện Ch P, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, chưa được xóa án tích. Nay bị cáo tiếp tục phạm tội “Cố ý gây thương tích”, nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, về nhân thân, sau khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích trong vụ án này, ngày 21-10-2016 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi “Giết người” cùng với các đồng phạm khác và đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố, điều tra. Điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc để phòng ngừa chung cho cộng đồng.

Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 của Bộ luật dân sự để cân nhắc cho bị cáo mức hình phạt phù hợp.

- Về vật chứng: Con dao Thái Lan mà bị cáo dùng để gây thương tích cho anh D, bị cáo đã vứt bỏ không thu hồi được nên không xử lý trong bản án này.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự:

Bị hại yêu cầu bồi thường tổng cộng 27.930.271 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường được 14.500.000 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 13.430.271 đồng. Yêu cầu của bị hại là hợp pháp, cần được chấp nhận; tại phiên tòa, bị cáo Cao Minh H đồng ý bồi thường cho anh D số tiền trên, nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Cao Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 2 Điều 104; Điều 33; Điều 45; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt: Cao Minh H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 21-10-2016).

2. Về bồi thường dân sự:

Áp dụng Điều 604, 605, 606, 609 Bộ luật Dân sự;

Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Cao Minh H, tự nguyện tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Phi D số tiền 13.430.271 đồng (Mười ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn hai trăm bảy mốt đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Cao Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 671.514 đồng án phí dân sự bồi thường.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ