vanban.org

Bản án 212/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lý Trung K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/9/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Trung K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2017/HSST
Ngày 28 - 12 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đức Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Lan Anh

2. Bà Lê Thị Thùy

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2017 tại Nhà văn hóa thôn Khòn Phổ, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 201/2017/HSST ngày 16/11/2017 đối với bị cáo:

Lý Trung K, sinh ngày 20/12/1985 tại Cao Lộc, Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Khu C, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 9/12; con ông Lý Văn D và bà Lương Thị T; vợ: Lăng Thị Đ (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2008; tiền sự: không có;

Danh chỉ bản số 342 lập ngày 26/9/2017, Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 100/HS-ST ngày 13/8/2014, Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tháng 4/2016. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2017 cho đến nay. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lý Trung K bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 16/8/2017 tại khu vực đường B, khối 5, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an phường H, thành phố L đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Lý Trung K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng kèm theo 01 xi lanh chưa qua sử dụng, 01 lọ nước cất Novocain.

Tại bản Kết luận giám định số 343/KL-PC54 ngày 25/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy thu giữ khi bắt quả tang Lý Trung K là chất ma túy Heroin có trọng lượng 0,121 gam (đã trừ bì)

Tại phiên tòa bị cáo Lý Trung K khai nhận: Do tái nghiện chất ma túy từ đầu năm 2017 nên bị cáo thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 8 giờ sáng 16/8/2017 bị cáo đi từ khu C, phường H (nơi bị cáo thuê ở trọ) ra Bưu điện trên đường B, thuộc phường H, thành phố L mua ma túy để sử dụng. Trên đường đi bị cáo điện thoại cho một người nam giới tên "B" không biết họ và địa chỉ đặt mua Heroin với giá 100.000 (một trăm ngàn đồng). B hẹn bị cáo ra cổng trường Mầm non 01/6 để nhận ma túy. Sau đó bị cáo đi vào hiệu thuốc gần đó mua xi lanh và nước cất cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra gặp "B". Bị cáo đưa cho B 100.000 đồng và nhận với B 01 gói giấy nhỏ màu trắng. Bị cáo cầm gói ma túy này trong lòng bàn tay trái để về nhà sử dụng. Khi đi đến đoạn đường B hướng về đền T thì bị Công an phường H, thành phố L làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 204/KSĐT ngày 15/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lý Trung K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, tại bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo Lý Trung K từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng đựng trong phong bì niêm phong sau giám định; 01 xi lanh chưa qua sử dụng, 01 lọ nước cất Novocain; tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phon 4 màu trắng Imel 013069007278682 đã qua sử dụng, mặt phía sau bị vỡ và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản sự việc, bản Kết luận giám định số 343/KL-PC54 ngày 25/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo Lý Trung K về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến chính sách quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhâ ân thức được tác hại của ma túy và biết viê âcmua bán, tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, và việc sử dụng ma túy ảnh hưởng tới sức khỏe, thiệt hại về kinh tế của cá nhân và gia đình, là nguyên nhân lây nhiễm căn bê ânh thế kỷ HIV/AIDS và tội phạm hình sự khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Về nhân thân: Ngày 13/8/2014, bị cáo Lý Trung K đã bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy cho đến tháng 4/2016, bị cáo chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015, khoản 3 Điều 7; tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định mức khởi điểm và mức cao nhất của khung hình phạt đều nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Thấy rằng lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận, bởi lẽ bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để bị cáo cải tạo, từ bỏ ma túy, sớm trở thành người có ích cho xã hội và gia đình vẫn là cần thiết nhằm góp phần phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 16/10/2017 của Cơ quan điều tra Công an thành phố L thể hiện bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Đối với người đàn ông tên "B" đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết họ tên và địa chỉ. Cơ quan điều tra không làm rõ được lý lịch nên không có căn cứ khởi tố, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 (mô ât) phong bì niêm phong đựng mẫu vâ ât sau giám định, đây là chất gây nghiện do Nhà nước nghiêm cấm lưu hành; 01 xi lanh, 01 lọ nước cất Novocain là những mẫu vật liên quan đến ma túy không có giá trị. Do đó tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu IPhon màu trắng Imel 013069007278682 đã qua sử dụng, mặt phía sau bị vỡ là phương tiện để bị cáo giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Lý Trung K 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/9/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (mô ât) phong bì niêm phong đựng mẫu vâ ât sau giám định; 01 xi lanh, 01 lọ nước cất Novocain.

Tịch thu, hóa giá sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phon 4 màu trắng Imel 013069007278682 đã sử dụng, mặt phía sau bị vỡ.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận ngày 13/11/2017)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lý Trung K phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ