vanban.org

Bản án 211/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Kiều Hữu G 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 211.2025.HSST - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 211/2025/HSST
Ngày: 25-12-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Mai Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Hải.

2/ Ông Lữ Hà Minh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 219/2025/TLST – HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:

KIỀU HỮU G, giới tính: nam; sinh năm 1967 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CCCD/Hộ chiếu: 07906700xxxx do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 11/8/2021; Nơi đăng ký thường trú: 6 H, Phường A, quận P (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: chạy xe ôm; Con ông: Kiều Văn N (chết); Con bà: Nguyễn Thị H (chết); Hoàn cảnh gia đình: bị cáo sống chung chưa đăng ký kết hôn nhưng có 01 con sinh năm 1991; Tiền án - Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/12/1987 bị TAND quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 22/01/1992 bị Ủy ban nhân dân quận P ra Quyết định về việc bắt buộc lao động tập trung thời hạn 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 13/2/1993, bị TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”; Ngày 20/8/1997 bị TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 10/4/2025 (BL62).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trang 1

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Minh T, sinh năm 1972; Chỗ ở: F C, Phường A, quận P (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/4/2025, Công an P, quận P (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh mời đối tượng Triệu Minh T, sinh năm 1972 thuộc diện quản lý người sử dụng ma túy đến trụ sở xét nghiệm, kết quả T dương tính với ma túy loại Met. Công an tiến hành khám xét chỗ ở của T và phát hiện thu giữ 01 bao thuốc lá hero, bật lửa, 01 đoạn ống hút nhựa được cắt nhọn 01 đầu, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 ống thủy tinh bên trong ống có dính tinh thế, 02 túi nylon, quần áo... T khai mua ma túy của Kiều Hữu G để sử dụng cá nhân. Qua truy xét, công an đã đưa Kiều Hữu G về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Kiều Hữu G khai nhận: Sáng ngày 05/4/2025, G đi chợ đồ cũ trên đường N, Phường I, quận P (nay là phường Đ) thì làm quen với 01 người bạn ngoài xã hội tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch). Qua trò chuyện, biết H1 bán ma túy nên G hỏi mua 500.000 đồng ma túy dạng đá, H1 đồng ý và nói G đợi. Khoảng 15 phút sau, tại trước nhà số B N, Phường C, quận G, H1 đưa cho G 01 bao thuốc lá bên trong có 01 điều thuốc và 01 gói nylon chứa ma túy dạng đá. Giàu cất ma túy vào túi áo, trả tiền cho H1 rồi G đi về nhà. Sau đó, G lấy một ít ma túy trong gói nylon để sử dụng một mình. Khoảng 11 giờ ngày 06/4/2025, khi G đang ngồi uống nước trước nhà thì Triệu Minh T đến hỏi mua ma túy và đưa cho bị cáo 200.000 đồng. G nhận tiền, đi vào nhà vệ sinh, dùng 01 đoạn ống hút nhựa một đầu cắt nhọn để múc ma túy bỏ vào miếng nylon của bao thuốc lá rồi hàn kín gói nylon chứa ma túy và ném ra ngoài đường cho T nhặt để tránh bị phát hiện. Trong ngày 06/4/2025, G tiếp tục lấy một ít ma túy để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 07/4/2025, T đến tìm G hỏi mua thêm 200.000 đồng tiền ma túy. Lúc này G không muốn sử dụng ma túy nên lấy số ma túy còn lại bán cho T và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bỏ vào thùng rác.

Tại Bản kết luận giám định số 4904/KL – KTHS ngày 14/4/2025 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Trí H1 điều tra viên và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh dính tinh thể, ký hiệu mẫu m, không xác định được khối lượng, tìm thấy ma túy loại Methamphetamine ở dạng vết.

Vật chứng của vụ án: 01 gói niêm phong ma túy, điện thoại di động, bao thuốc lá, quần áo thun, bật lửa, chai nhựa, ống hút nhựa được cắt hai đầu ...

Tại bản cáo trạng số 65/CT–VKS ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Kiều Hữu G về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trang 2

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong, quần áo và ống hút, bật lửa thu giữ của bị cáo và Triệu Minh T... là vật cấm và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax do không liên quan đến vụ án.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định số 4904/KL – KTHS ngày 14/4/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, lời khai của Triệu Minh T, lời khai của bị cáo, Biên bản đối chất, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay nên có đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 05/4/2025, bị cáo Kiều Hữu G đã mua 500.000 đồng ma túy dạng đá của một người tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực chợ đồ cũ đường N, quận P (cũ) đem về nhà sử dụng một mình tại nhà vệ sinh. Sau đó, ngày 06/4/2025, Triệu Minh T tìm đến nhà G hỏi mua ma túy, G đã lấy một phần bán cho T giá 200.000 đồng, đến ngày 07/4/2025, G bán tiếp cho T số ma túy còn lại giá 200.000 đồng. Việc mua bán giữa G và T thực hiện trực tiếp với nhau và bằng tiền mặt. Như vậy, bị cáo G đã bán cho T 02 lần ma túy vào 02 ngày khác nhau. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251

Trang 3

của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu do ngày 26/12/1987 bị TAND quận Phú Nhuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Qua xác minh không có thông tin về nơi chấp hành án của bị cáo. Về nghĩa vụ thi hành án thì bị cáo đã nộp sung công số tiền thu lợi bất chính là 11.000 đồng, các khoản đóng phí còn lại đã được đình chỉ thi hành theo Quyết định đình chỉ số 001/THA ngày 30/11/1994); Ngày 22/01/1992 bị Ủy ban nhân dân quận P ra Quyết định về việc bắt buộc lao động tập trung thời hạn 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 13/2/1993, bị TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/1996; Ngày 20/8/1997 bị TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2002. Đối với các bản án này bị cáo đã chấp hành án xong theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 156/GCN ngày 20/3/2002, Công văn số 349/CV – TLC (GDHS) ngày 09/9/2025 của Trại giam T1 – Cục C; Công văn số 1958/V06 (P5) ngày 14/10/2025 của Cục H3 - Bộ C1; Công văn số 1146 ngày 19/8/2025 và số 8224/THADS – VP ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự Tp. Hồ Chí Minh.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý loại độc dược là các chất ma túy, làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt tù nhiều lần, trong đó có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó là bài học tu sửa bản thân mà tiếp tục phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục và đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với số dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, quần áo, bao thuốc lá (thu giữ của bị cáo G và của Triệu Minh T)... là những vật cấm, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng thu giữ của bị cáo, bị cáo khai sử dụng vào việc liên hệ với gia đình và công việc chạy xe ôm, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Đây là dạng tội ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét, bị cáo không thu lợi

Trang 4

là tiền nhưng được lợi ma túy để sử dụng nên phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Đối với Triệu Minh T đã bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 34/2025/QĐ- TA ngày 05/6/2025 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc thời hạn là 18 tháng.

. Đối với đối tượng tên H1 – người bán ma túy cho bị cáo G hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch và nơi cư trú, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Kiều Hữu G 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2025.

[2]. Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt bổ sung bị cáo Kiều Hữu G số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Kiều Hữu G 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Promax màu vàng (máy cũ không kiểm tra tình trạng hoạt động).

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) gói niêm phong ma túy sau giám định có các chữ ký ghi tên Trần Đình H2 (Giám định viên) và Đỗ Xuân V (Điều tra viên) vụ số 1546/25.

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá Hero.

+ 02 (hai) tép nylon.

+ 01 (một) bật lửa.

+ 01 (một) chai nhựa bên ngoài có chữ Warrior, có đục 02 lỗ trên nắp.

+ 01 (một) đoạn ống hút màu tím được cắt nhọn một đầu.

+ 01 (một) đoạn ống hút màu trắng.

+ 01 (một) áo thun màu xanh có chữ Dreamer.

+ 01 (một) quần đùi màu xanh.

+ 01 (một) áo thun tay ngắn màu xanh dương.

+ 01 (một) quần đùi màu đen, mặt trái có màu vàng.

Trang 5

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/12/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh).

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Kiều Hữu G phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ