- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cáo Trần Hoàng Phúc phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2024/HS-PT Ngày 27 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Lễ.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng; bà Trần Thị Thuý Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh AG
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh AG tham gia phiên tòa: Bà Phạm
Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh AG , xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 356/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2024/QĐXXPT- HS ngày 10 tháng 12 năm 2024, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Ch.
Bị cáo có kháng cáo: Bị cáo Trần Hoàng Ph , sinh năm 2002, tại thị xã Tân Ch, tỉnh AG . Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Phú H, xã Phú V, thị xã Tân Ch, tỉnh AG ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công Ngh và bà Nguyễn Thị K; bị cáo chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 cho đến nay (có mặt).
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 08/4/2024, bị cáo Trần Hoàng Ph , điều khiển xe mô tô biển số 67H1 - 099.43 đến nhà của bị cáo Trần Thị Thu Tr để mua 200.000 đồng ma túy đá về sử dụng. Sau khi bị cáo Tr bán ma túy cho bị cáo Ph xong, bị cáo Ph bỏ ma túy vào túi quần, rồi điều khiển xe mô tô về nhà, khi đến khu vực ấp Phú A, xã Phú V, thị xã Tân Ch thì bị Công an xã Phú V phát hiện và thu giữ bên trong túi quần của bị cáo Ph có 01 bọc nilon trong suốt, hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Ph về hành vi Tàng trữ trái pháp chất ma túy. bị cáo Ph khai nhận, số ma túy bị Công an thu giữ là của người phụ nữ tên Trang bán cho bị cáo Ph , bị cáo Ph mua ma túy về để sử dụng. Ngoài ra, bị cáo Ph trực tiếp mua ma túy của bị cáo Tr được 06 lần, trong đó 05 lần bị cáo Ph trả tiền mặt, 01 lần chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Hữu Đ (chồng bị cáo Tr).
Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường Long Th, thị xã Tân Ch kiểm tra hành chính nhà của Trần Thị Thu Tr, Nguyễn Hữu Đ (chồng Tr) đang ở nhà tổ 20, khóm Long Thị D, phường Long Thạnh, thị xã Tân Ch, phát hiện tại lối đi chung bên hông nhà Trang có 01 túi nhựa trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể trắng; 01 ví da màu nâu, bên trong có chứa 13 túi nhựa trong suốt hàn kín, chứa tinh thể trắng; 02 co thủy tinh (nỏ) nên tiến hành thu giữ, lập biên bản sự việc.
Quá trình điều tra, xác minh, đầu năm 2024, bị cáo Trần Thị Thu Tr bắt đầu mua ma túy đá của nam thanh niên tên H (không rõ lai lịch) được 10 lần, mỗi lần mua với số tiền từ 1.000.000 đến 1.500.000 đồng và đã bán cho những người nghiện gồm Nguyễn Đặng Tr, Trần Nguyễn D (sinh ngày 01/9/2009, dưới 16 tuổi), Nguyễn Văn Ph1, Trương Văn Phương Thanh, Trần Văn Q, Lý Quốc V, Võ Văn A1, Đỗ Phạm Quốc Kh, Hồ Văn U, Nguyễn Hữu Ngh1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thanh Q. Ngày 08/4/2024, bị cáo Tr mua ma túy của H số lượng 05 bọc nilon, trong suốt, hàn kín, mục đích để bán lại kiếm lời. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Ph đến gặp bị cáo Tr và hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Sau khi bán ma túy cho bị cáo Ph xong thì nghe thông tin lực lượng Công an đến khu vực của bị cáo Tr kiểm tra nên bị cáo Tr bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 02/9/2024, bị cáo Tr đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Ch và khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 ví da, màu nâu, tình trạng: Đã qua sử dụng.
- 02 co thủy tinh, trong suốt.
- Xe mô tô biển số 67H1-099.43, nhãn hiệu Honda, loại Waves, màu sơn trắng, tình trạng: Đã qua sử dụng.
- 01 phong bì niêm phong (vụ số: 488/KL-KTHS ngày 15/4/2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Ch, tỉnh AG và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Quốc T.
- 01 phong bì niêm phong (vụ số: 489/KL-KTHS ngày 15/4/2024, kí hiệu M1) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Ch, tỉnh AG và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H Nguyễn Quốc T.
- 01 phong bì niêm phong (vụ số:489/KL-KTHS ngày 15/4/2024, kí hiệu M2, M3) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Ch, tỉnh AG và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Quốc T.
- 01 điện thoại di động, đặc điểm: Nhãn hiệu OPPO, màu đen; tình trạng: Đã qua sử dụng.
- Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 488/KL-KTHS ngày 13/4/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh AG , kết luận: Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4397 gam.
Kết luận giám định số 489/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh AG , kết luận: Mẫu M1, M2 và M3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 2,1217 gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thị xã Tân Ch đã quyết định:Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Hoàng Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Căn cứ vào điểm b, e khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thu Tr 08 năm tù. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Ph 02 năm tù, Bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, tính án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/11/2024 bị cáo Trần Hoàng Ph có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Hoàng Ph đã khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đông xét xử giảm nhẹ hình phạt với lý do cha bị cáo có tham gia cách mạng, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là quá nặng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh AG thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng Ph và giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng Ph làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Trần Hoàng Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo khác trong vụ án, lời khai của người làm chứng cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 08/4/2024, sau khi mua ma túy do Tr bán, Trần Hoàng Ph , cất giấu trong người, mang về sử dụng, khi đến khu vực ấp Phú An A, xã Phú V, thị xã Tân Ch, bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,4397 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu định tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Toà án nhân dân thị xã Tân Ch kết án bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hoàng Ph xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn tỉnh AG các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Hành vi nêu trên của bị cáo Ph đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 tháng đến 05 năm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng Ph không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng Ph, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Ch, tỉnh AG .
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Ph 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Hoàng Ph phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng Ph, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Ch, tỉnh AG .
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Ph 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Hoàng Ph phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh AG ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh AG
- Tòa án nhân dân TX Tân Ch;
- Công an TX Tân Ch
- Viện kiểm sát nhân dân TX Tân Ch;
- Chi cục Thi hành án dân sự TX Tân Ch;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh AG ;
Cao Minh Lễ
- Tòa án nhân dân TX Tân Ch;
- Thi hành án hình sự;
- Bị cáo có kháng cáo;
- Lưu: hồ sơ vụ án; Tòa Hình sự, HCTP; . THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Minh Lễ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh AG ; - Sở Tư pháp tỉnh AG - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân ; - Công an huyện Phú Tân; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh AG ; - Tòa án nhân dân huyện Châu Phú; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo có kháng cáo; - Lưu: hồ sơ vụ án; Tòa Hình sự, HCTP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Minh Lễ |