- Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯỜNG VĂN X- TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣờng Văn X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 211/2023/HSST Ngày 25 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; bà Cầm Thị Tƣơi
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phƣơng Linh - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2023/HSST ngày 8 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 219/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn X, sinh năm 1980, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La.
Nơi cƣ trú: Bản P, xã Nậm T, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lƣờng Văn Nh (đã chết) và bà Lò Thị T; bị cáo có vợ là Lƣờng Thị Th và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 07/6/2023 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Nậm T, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản P, xã Nậm T, huyện Sông Mã phát hiện Lƣờng Văn X, sinh năm 1980, trú tại bản P đang đi bộ trên đƣờng có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi bị tổ công tác kiểm tra, X đã tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng (X khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 08/6/2023 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lƣợng và trích mẫu giám định, kết quả: Các mảnh viên nén màu hồng có khối lƣợng là 0,069 gam đã sử dụng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu X1 và số bột màu trắng có khối lƣợng là 0,26 gam đã trích 0,05 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu X2, vật chứng còn lại là 0,21 gam ký hiệu L1.
Tại bản kết luận giám định số 1490/KL ngày 12/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“- Mẫu ký hiệu X1 gửi giám định là ma tuý; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,069 gam.
- Mẫu ký hiệu X2 gửi giám định là ma tuý, Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là DiaceTlmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,069 gam; loại Methamphetamine và 0,26 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là DiaceTlmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Quá trình điều tra bị cáo Lƣờng Văn X khai nhận hành vi phạm tội nhƣ sau: Khoảng 07 giờ ngày 07/6/2023 X đem theo số tiền 50.000 đồng (là tiền do X lao động tiết kiệm mà có) rồi một mình đi bộ từ nhà ở bản P, xã Nậm T đến bản Ten Ƣ, xã Chiềng Sơ, huyện Sông Mã để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến bản Ten Ƣ thì X gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính, X hỏi mua đƣợc của ngƣời này một ít Heroine và các mảnh viên Hồng phiến đƣợc gói bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền 50.000 đồng. Mua đƣợc ma tuý X giấu vào túi quần phía trƣớc bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến 10 giờ 30 phút X đi bộ về đến tỉnh lộ 113 địa phận bản P, xã Nậm T thì gặp tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã Nậm T, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng nhƣ đã nêu trên.
Cáo trạng số 161/CT-VKSSM ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lƣờng Văn X về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lƣờng Văn X đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng nhƣ nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lƣờng Văn X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn X từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:
Tịch thu để tiêu hủy 0,21 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Bị cáo Lƣờng Văn X không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi đƣợc nói lời sau cùng, bị cáo chỉ xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ của vụ án là các loại ma túy Methamphetamine và Heroine; kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 07/6/2023 bị cáo Lƣờng Văn X đã có hành vi tàng trữ 0,069 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,26 gam ma túy, loại Heroine. Tổng khối lƣợng của hai chất ma túy là 0,329 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Nhƣ vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lƣờng Văn X thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thƣờng pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phƣơng nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị các, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng nhƣ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên, địa chỉ là ngƣời đã bán ma tuý cho bị cáo tại bản Ten Ƣ, xã Chiềng Sơ, Sông Mã vào ngày 07/6/2023. Do không xác định đƣợc họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,21 gam ma túy, loại Heroine là vật cấm tàng trữ, lƣu hành; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là ngƣời dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên đƣợc xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thƣờng Vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Lƣờng Văn X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn X 01 (một) năm 10 (mƣời) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Tịch thu để tiêu huỷ 0,21 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 8 tháng 9 năm 2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Bị cáo Lƣờng Văn X đƣợc miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS huyện Sông Mã; - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tƣ pháp tỉnh Sơn La; - THAHS; - CCTHADS huyện Sông Mã; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |