vanban.org

Bản án 211/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điể m b khoản 1 điề u 355 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân D. Sửa bản án sơ thẩm Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSPT Nguyễn Xuân D - Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điể m b khoản 1 điề u 355 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 211/2023/HSPT
Ngày: 26/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầ n Phương Đông

Các Thẩ m phá n: Ông Nguyễn Xuân Quang

Ông Vũ Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tò a á n

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phú c thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 115/2023/HSPT ngày 12/4/2023 đố i vớ i bị cá o Nguyễ n Xuân Duy, do có khá ng cá o củ a bị cá o đố i vớ i bản án hình sự sơ thẩm số 560/2022/HSST ngà y 20/12/2022 của Tòa án nhân dân TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Xuân D, sinh năm: 1982 tại Đồng Nai;Nơi đăng ký HKTT: K10, tổ 15, khu phố 2, phường B, thành phố B, Đồng Nai; Chổ ở hiện nay:159, tổ 36B, khu phố 9, phường T, thành phố B, Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Chức vụ: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân D (sinh năm 1957-đã chết) và con bà Mai Thị L (sinh năm 1961); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 04 anh em; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không (nhân thân: Ngày 26/4/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - bị cáo chấp hành xong bản án từ ngày 26/7/2013); Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt)

- Người bị hại: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1971 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của ông T: Chị Vũ Trần Kim A, sinh năm: 1997 và ông Vũ Trần Quốc D, sinh năm: 2005. Địa chỉ: 1/1/16B, khu phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (không triệu tập do không liê quan đến nội dung kháng cáo).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân D không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/12/2021, D điều khiển xe môtô biển số 60F2-685.23 có dung tích xi lanh 124cm3 chở anh Vũ Văn T (sinh năm 1971, ngụ tại khu phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), đến nhà anh Đào Quang T – sinh năm 1992, địa chỉ: K2/41, khu phố T, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để cùng ăn nhậ u. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 03/12/2021, sau khi nhậ u xong D điều khiển xe mô tô chở anh T đi về. Lúc nà y D đang trong trạng thái say với mức định lượng cồn trong máu là 255.7mg/dl. D chở anh T lưu thông trên đường Nguyễn Ái Quốc hướng từ ngã tư Bửu Long đi ngã ba Vườn Mít. Khi chạ y đến khu vực ngã tư giao nhau với đường Hồ Văn Đại (bên phải) và đường Nguyễn Du (bên trái) tại đoạn đường thuộc khu phố 3, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, thì do D điề u khiể n xe trong trạ ng thá i say rượu bia, thiếu chú ý quan sát và không làm chủ tay lái dẫ n đế n để xe đụng vào gờ bê tông của đầu dải phân cách trồng cây xanh gây tai nạn. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, D bị thương được đưa vào Bệnh viện đa khoa Đồng Nai cấp cứu.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân D khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường đã xác định và ghi nhận (tất cả các dấu vết được đo vào mép lề bên phải theo hướng ngã tư Bửu Long đi ngã ba Vườn Mít và lấy trụ đèn số 88 trên dải phân cách làm mốc):

+ Xe môtô biển số 60F2-685.23 ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng đi ngã ba Vườn Mít, đuôi xe quay hướng ngã tư Bửu Long. Trục bánh trước cách mép đường 05m30 và cách trụ đèn số 88 trên dải phân cách làm mốc là 06m80, trục bánh sau cách mép đường 04m50.

+ Vị trí tử thi Vũ Văn Tuấn té ngã trên dải phân cách , tư thế nằm ngử a Đầu tử thi hướng ngã ba Vườn Mít, cách mép đường 06m20 và cách trục bánh trước xe môtô biển số 60F2-685.23 là 00m95; Chân hướng ngã tư Bửu Long.

+ Vết đụng tróc bêtông ở dải phân cách trồng cây xanh cách mép đường 07m70 và cách trục bánh sau xe môtô biển số 60F2-685.23 là 05m85.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2419/KLGĐ-PC09 ngày 17/01/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận nguyên nhân tử vong của anh Vũ Văn T: Đa chấn thương, chấn thương vùng mặt gãy xương gò má và xương hàm; chấn thư ngực kín rách cơ tim.

Tại Bản kết luận giám định số 2491/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2021 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Cụm dấu vết cong vênh biến dạng tại chạng ba phuộc trước cùng niềng bánh trước của xe môtô biển số 60F2-685.23 có chiều hướng từ trước ra sau, từ mặt lăn vào tâm bánh, hình thành do quá trình va chạm với dải phân cách bêtông tại hiện trường (điểm va chạm đầu tiên là bánh trước của xe môtô).

Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 034/GĐHS/2022 ngày 27/01/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai, kết luận: Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 03/12/2021, định lượng cồn trong máu Nguyễn Xuân D 255.7mg/dl.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả xe môtô biển số 60F2-685.23 cho anh Nguyễn Xuân L (em trai D) là chủ sở hữu (Anh L để xe ở nhà, D tự ý sử dụng xe rồi gây tai nạn).

Sau tai nạn Nguyễn Xuân D đã bồi thường cho gia đình anh T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của gia đình anh T đã có đơn bãi nại và đề nghị đình chỉ xử lý trách nhiệm hình sự đối với D.

Tại Bản án hỉnh sự sơ thẩm số 560/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân TP.Biên Hòa đã quyết định:

Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; cácđiểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về á n phí và quyề n khá ng cá o theo quy đị nh.

Ngày 20/12/2022, bị cáo Nguyễ n Xuân D có đơn kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét đượ c giảm nhẹ hình phạt vớ i lý do: bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khăn (hộ nghèo), bản thân bị HIV….

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giũ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn khá ng cá o củ a bị cá o Nguyễn Xuân D làm trong thờ i hạ n luậ t đị nh nên đượ c Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t theo trì nh tự phú c thẩ m.

Xét nộ i dung Đơn khá ng cá o củ a bị cá o Nguyễn Xuân D, Hộ i đồ ng xé t xử xá c đị nh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễ n Xuân D khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã mô tả , phù hợp với các chứng cứ , tài liệu có tại hồ sơ. Do đó , án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Xuân D về tộ i “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 đượ c sử a đổ i bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luậ t.

Khi lượ ng hì nh, cấ p sơ thẩ m đã đá nh giá :

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, bị cáo không có tiền án, tiền sự, được bị hại bãi nại, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị bệnh hiểm nghèo HIV nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, b khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp bị hại đã được bồi thường thiệt hại, tại phiên toà không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét phần dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

- Bị cáo Nguyễn Xuân D giữ nguyên khá ng cá o xin đượ c giảm nhẹ hình phạt và cung cấp các chứng cứ mới như: Đơn xác nhận hộ nghèo và các đơn thuốc thể hiện bị cáo Nguyễn Xuân D đang tích cực điều trị bệnh HIV (tình tiết mới);

- Do bị cáo Nguyễn Xuân D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là bị cáo Nguyễn Xuân D đang tích cực điều trị bệnh HIV (bệnh hiểm nghèo) nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự (quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng) và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về án phí: Do khá ng cá o đượ c chấ p nhậ n nên bị cá o Nguyễn Xuân D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

đượ c Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t, cân nhắ c trong quá trì nh nghị á n đố i vớ i vụ á n.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điể m b khoản 1 điề u 355 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân D. Sửa bản án sơ thẩm

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Xuân D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên á n sơ thẩ m.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ