- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Kiều L - Đoàn Văn V"
- Tòa quyết gì? Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2022/HNGĐ-ST Ngày 29/12/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Lệ Hoa
2. Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân
dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 404/2022/TLST – HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Mai Kiều L; Sinh năm: 1989; (có đơn xin xét xử vắng
mặt)
2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn V; Sinh năm: 1990; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Mai Kiều L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn V tự nguyện chung sống với nhau và có
đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 22/4/2022. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đoàn Khánh Băng, sinh ngày 15/6/2010
và Đoàn Khánh Duy, sinh ngày 20/11/2012. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Do điều kiện đi làm xa nên chị L yêu cầu xét xử vắng mặt chị cho đến khi kết
thúc vụ án.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của vụ án và triệu tập hợp lệ để xét xử
sơ thẩm đến lần thứ hai đối với anh Đoàn Văn V nhưng anh V không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Mai Kiều L khởi
kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Đoàn Văn V. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh V có nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử
sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V tự nguyện chung sống
với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Bằng vào ngày 22/4/2022. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai bên cha mẹ có hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã ly thân khoảng 05 tháng nay. Điều này phù hợp với đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 23/11/2022 của chị Mai Kiều L được chính quyền địa phương xác nhận. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đoàn Văn V vẫn vắng mặt là không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Mai Kiều L được ly hôn với anh Đoàn Văn V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đoàn Khánh Băng, sinh ngày
15/6/2010 và Đoàn Khánh Duy, sinh ngày 20/11/2012 đang sống với chị L. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Băng và cháu Duy đang sống ổn định với chị L, anh V cũng không có ý kiến về yêu cầu nuôi con chung của chị L nên cần giao cháu Băng và cháu Duy cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, do chị L không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Chị Mai Kiều L xác định vợ chồng không có nợ. Tại đơn
xin xác nhận ngày 25/10/2022 của chị L chính quyền địa phương cũng xác nhận anh chị không bị ai thưa kiện về nợ tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Mai Kiều L phải chịu theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị Mai Kiều L đã dự nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.
Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị
Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và
gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Kiều L về việc ly hôn với anh
Đoàn Văn V.
Về hôn nhân: chị Mai Kiều L được ly hôn với anh Đoàn Văn V.
Về con chung: Giao các cháu Đoàn Khánh Băng, sinh ngày 15/6/2010 và Đoàn
Khánh Duy, sinh ngày 20/11/2012 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng.
Ngày 26/10/2022 chị L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003096 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.
3. Chị Mai Kiều L và anh Đoàn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - UBND xã T - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Phạm Lan Chi |