- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế V đối với ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 211/2022/DSST Ngày: 26/5/2022 V/v tranh chấp: Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Khanh
2. Bà Trần Thị Thiếu Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2021/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế V
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà S, đường P, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, sinh năm 1965 – Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Trần Văn T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Tòa nhà P, đường U, Phường 25, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo văn bản ủy quyền số: 37238.21 ngày 24/6/2021
(Ông T có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1978
Địa chỉ thường trú: đường T, khu phố 1, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị Thúy L, sinh năm 1976
Địa chỉ thường trú: đường V, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ nơi cư trú: đường T, khu phố 1, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 9 năm 2021, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc Tế V có ông Trần Văn T là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Quốc Tế V có cho ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018 với nội dung:
- Số tiền giải ngân: 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng)
- Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER
- Thời hạn vay: 60 tháng từ ngày 06/02/2018 đến ngày 05/02/2023
- Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8,69%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của V tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,19%/năm
- Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 28, mỗi tháng trả 9.170.000 đồng, tháng cuối cùng trả 8.970.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 28/02/2018
- Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 28
- Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn
V đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0057.KUNN1.633.18 ngày 05/02/2018 với số tiền 550.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiệp hợp đồng, ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 13/6/2021 ông C và bà L đã thanh toán cho V số tiền là: 176.380.481 đồng (trong đó, tiền gốc: 128.380.000 đồng, tiền lãi: 48.000.481 đồng) thì ngưng không thanh toán nữa kéo dài đến nay. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp cũng như đôn đốc nhắc nợ, tạo mọi điều kiện để ông C và bà L thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, đến nay phía bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Quốc tế V yêu cầu ông C và bà L trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 26/5/2022 là: 685.137.766 đồng (sáu trăm tám mươi lăm triệu, một trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 421.620.000 đồng tiền nợ gốc và 263.517.766 đồng tiền nợ lãi. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông C và bà L phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018, được tính từ ngày 27/5/2022 cho đến khi trả hết số tiền nợ trên.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn xét xử không đảm bảo theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 73, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0057.KUNN1.633.18 ngày 05/02/2018 giữa Ngân hàng TMCP Quốc tế V với ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L, cho thấy ông C và bà L có vay và còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 26/5/2022 là: 685.137.766 đồng (sáu trăm tám mươi lăm triệu, một trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 421.620.000 đồng tiền nợ gốc và 263.517.766 đồng tiền nợ lãi. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C và bà L chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 176.380.481 đồng (trong đó, tiền gốc: 128.380.000 đồng, tiền lãi: 48.000.481 đồng) thì ngưng không thanh toán nữa. Việc ông C và bà L không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 BLDS năm 2015. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP Quốc tế V khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 26/5/2022 là: 685.137.766 đồng (sáu trăm tám mươi lăm triệu, một trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 421.620.000 đồng tiền nợ gốc và 263.517.766 đồng tiền nợ lãi. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông C và bà L phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ còn lại theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018, được tính từ ngày 27/5/2022 cho đến khi trả hết số tiền nợ trên là có cơ sở. Từ phân tích trên, căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS năm 2015 và Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L có nơi cư trú tại số đường T, khu phố 1, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp. Đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C và bà L.
Về nội dung tranh chấp: Xét, qua yêu cầu của Ngân hàng TMCP Quốc tế V yêu cầu ông C và bà L trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 26/5/2022 là: 685.137.766 đồng (sáu trăm tám mươi lăm triệu, một trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 421.620.000 đồng tiền nợ gốc và 263.517.766 đồng tiền nợ lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông C và bà L phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018, được tính từ ngày 27/5/2022 cho đến khi trả hết số tiền nợ trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, qua xem xét các tài liệu chứng cứ cũng như lời trình bày của các bên đương sự thì hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng, điều này được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Việc ký kết này có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, các bên hoàn toàn tự nguyện nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của đôi bên. Ông C và bà L đã nhận đủ tiền theo như Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 0057.KUNN1.633.18 ngày 05/02/2018 nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên hiện nay phía Ngân hàng yêu cầu ông C và bà L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh là có căn cứ. Do bị đơn đã vi phạm thời hạn thanh toán nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là chính đáng, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L mặc dù đã được Tòa án đã triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó ông C và bà L đã từ bỏ quyền phản đối của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu của ông C và bà L.
Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp nên có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng TMCP Quốc tế V không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc tế V đối với ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L.
Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế V số tiền còn nợ tính đến ngày 26/5/2022 là: 685.137.766 đồng (sáu trăm tám mươi lăm triệu, một trăm ba mươi bảy ngàn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 421.620.000 đồng tiền nợ gốc và 263.517.766 đồng tiền nợ lãi, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 0057.HDTD1.633.18 ngày 02/02/2018, được tính từ ngày 27/5/2022 cho đến khi trả hết số tiền còn nợ.
Đôi bên thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị Thúy L chịu 31.405.511 đồng (ba mươi mốt triệu, bốn trăm lẻ năm ngàn, năm trăm mười một đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Quốc tế V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.465.644 đồng (mười ba triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng) theo biên lai số 0032651 ngày 21/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận, tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi Cục THADS Q. Bình Tân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các hội thẩm nhân dân | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Kim Ngân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lưu Kim Ngân |