vanban.org

Bản án 211/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ng 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Văn Ng cho Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ng phạm vội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 211/2021/HSST
Ngày 24/12/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Đình Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ngẫu.

2. Ông Trương Công Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/12/2021 tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 213/2021/TLST – HS ngày 11/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2021/QĐXXST– HS ngày 12/12/2021 đối với bị cáo:

Phạm Văn Ng (tên gọi khác: không), sinh năm 1976 tại Đồng Nai.

Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: ấp Bm, xã La, huyện Lt, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Phạm Văn L, sinh năm 1954 và bà Hồ Thị Tr, sinh năm 1954.

Gia đình có 07 anh em bị cáo là con thứ tư. Có vợ tên Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1976. Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Bị hại: Anh Phan Văn P, sinh năm 1984 (đã chết).

Địa chỉ: thôn Bt, xã St, huyện Th, tỉnh Phú Yên.

Đại diện hợp pháp cho bị hại: 1/ Bà Lê Thị Cúc S, sinh năm 1937 (mẹ của bị hại).

Địa chỉ: thôn PL, xã HT, huyện PH, tỉnh Phú Yên.

2/ Chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1980 (vợ của bị hại).

3/ Anh Phan Đình H, sinh ngày 20/11/2003 (con).

4/ Cháu Phan Thị Mỹ H1, sinh năm 2005 (con).

Đại diện theo ủy quyền của bà S và giám hộ cho cháu Mỹ H: chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1980.

Địa chỉ: thôn BT, xã ST, huyện TH, tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có mặt; bà Ng, anh H có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/02/2021, Phạm Văn Ng (có chứng chỉ nghề vận hành máy cày theo quy định) điều khiển xe máy cày nhãn hiệu SIBAURA SD4000ADO, biển số 60LA-4052 kéo theo rơ moóc tự chế do Ng làm chủ trên làn đường xe hỗn hợp đường DT769 theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây. Khi đến Km 22 +600, đường DT769 thuộc ấp 9, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thì có một xe ô tô tải (không rõ biển số) đi từ phía sau bất ngờ vượt trái xe máy cày nên Ng điều khiển xe sang phải. Lúc này, xe mô tô biển số 53X2-4025 do anh Phan Văn P điều khiển phía sau cùng chiều đi lên va chạm vào bánh sau bên phải của rơ moóc tự chế. Hậu quả, anh Phan Văn P được cấp cứu và tử vong tại Bệnh viện đa khoa Long Thành.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đã xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là giao lộ không đồng cấp giữa đường 769 và đường ấp 9, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; có 02 chiều đường, có vạch sơn vàng đứt quãng ở giữa phân chia chiều đường; mỗi chiều đường có 02 làn đường rộng 3,50m; 2,00m; đường ấp 9 có 02 chiều đường, mặt đường rộng 7,00m; lối mở của ngã ba rộng 14m.

Lấy mép đường bên phải theo hướng lưu thông Quốc lộ 51 đi Dầu Giây làm mép đường chuẩn. Lấy trụ điện số 186 nằm bên trong mép đường bên phải theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây làm điểm mốc cố định.

Sau va chạm hiện trường còn để lại các dấu vết sau:

(1) Vết cày xe mô tô biển số 53X2-4025: Sau tai nạn hiện trường còn để lại vết cày đứt quãng theo hướng mép đường chuẩn đi đường ấp 9. Vết cày nằm trên đường ấp 9, chiều dài vết cày là 2,10m, điểm cuối vết cày nằm tại bàn đạp chân trước bên trái. Đo từ đầu vết cày đến mép đường chuẩn là 0,70m.

(2) Xe mô tô biển số 53X2-4025: Sau tai nạn xe nằm ngã sang trái, nằm trên mặt đường của đường ấp 9. Đầu xe quay về hướng Quốc lộ 51, đuôi xe quay về hướng Dầu Giây. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 2,00m. Đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn là 2,20m. Đo từ tâm trục bánh trước đến điểm mốc cố định là 4,30m. Đo từ tâm trục bánh sau đến tâm trục bánh sau của rơ moóc tự chế của máy cày là 1,60m.

(3) Vết phanh bên phải của máy cày: Sau tai nạn hiện trường để lại vết phanh bên phải của máy cày theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây, nằm trên mặt đường của đường ấp 9. Chiều dài vết phanh là 4,40m, điểm cuối vết phanh nằm tại tâm trục bánh sau bên phải của máy cày. Đo từ chiều dài vết phanh đến mép đường chuẩn là 2,00m.

(4) Vết phanh bên trái máy cày: Sau tai nạn hiện trường để lại vết phanh bên trái của máy cày theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây, nằm trên mặt đường của đường ấp 9.

(5) Máy cày (không biển số): Sau tai nạn máy cày dừng trên mặt đường của đường ấp 9, đầu xe quay về hướng Dầu Giây, đuôi xe quay về hướng quốc lộ 51. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái máy cày đến mép đường chuẩn là 1,50m. Đo từ tâm trục bánh sau bên trái máy cày đến mép đường chuẩn là 1,20m. Đo từ tâm trục bánh sau bên trái của rơ moóc tự chế đến mép đường chuẩn là 0,20m.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 073/TT/2021 ngày 12/3/2021 của Trung tâm pháp y Đồng Nai xác định: nguyên nhân Phan Văn P chết do đa chấn thương: Chấn thương ngực gây gãy đa xương sườn hai bên, dập rách nhu mô phổi hai bên, chảy máu khoang ngực; Chấn thương bụng gây vỡ lách, chảy máu ổ bụng. Hậu quả gây xuất huyết dưới nội mạc. Kết luận khác: Nồng độ cồn trong máu 0,61 mg/100ml.

- Tại Bản kết luận giám định số 1837/C09B ngày 31/3/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen, bùn đất các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 53X2-4025 (bánh trước, giảm sóc trước, yên xe) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, mất bùn đất mặt ngoài bánh trục 2 bên phải xe máy cày không biển số có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh.

2. Trên cơ chế hình thành dấu vết và các tài liệu kèm theo xác định:

2.1. Phía trước bên trái xe mô tô biển số 53X2-4025 và bánh trục 2 bên phải xe máy cày không biển số là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

2.2. Khi va chạm xe máy cày không biển số chuyển động trên đường DT 769, hướng từ Quốc lộ 51 đi Dầu Giây, xe mô tô biển số 53X2-4025 chuyển động cùng chiều bên phải.

3. Ngoài các dấu vết trên, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 53X2-4025 và xe máy cày không biển số với vật khác.

- Tại Công văn số 195/TTĐKXCG ngày 09/6/2021 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới – Sở Giao thông vận tải Đồng Nai xác định:

+ Hệ thống lái, hệ thống chuyển động, hệ thống phanh và các cần, bàn đạp điều khiển đúng kiểu loại, đủ chi tiết, lắp đặt chắc chắn, vẫn còn sử dụng được và hoạt động bình thường.

+ Động cơ không khởi động được (chưa tìm thấy số động cơ), vì vậy hiệu quả của hệ thống phanh và độ sai lệch lực phanh giữa các bánh xe trên cùng một trục trước hoặc trục sau cũng không thể kiểm tra xác định được; các đèn chiếu sáng, tín hiệu không đầy đủ, hư hỏng và không hoạt động; các lốp xe có gai (hoa) lốp mòn quá chỉ dấu quy định của nhà sản xuất.

+ Xe đã tự hoán cải thay đổi kết cấu, nối thêm trục dẫn động, hàn nối lắp thêm rơ moóc chở hàng phía sau trái quy định tại Điều 55, Điều 57 Luật giao thông đường bộ.

Từ những nhận định như trình bày trên, Giám định viên kết luận tại thời điểm giám định là xe máy kéo nông nghiệp bánh lốp (máy cày) biển số 60LA-4052, số khung SD4000A-O-12248, số động cơ: (LEP854A) 15570 không đảm bảo chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Phạm Văn Ng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, dấu vết các phương tiện liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Phạm Văn Ng về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Thành áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo từ 16 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 32 đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Ng khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/02/2021, Phạm Văn Ng (có chứng chỉ nghề vận hành máy cày theo quy định) điều khiển xe máy cày nhãn hiệu SIBAURA SD4000ADO, biển số 60LA-4052 kéo theo rơ moóc tự chế (không đảm bảo chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ) trên làn đường xe hỗn hợp theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây. Khi đến Km 22 +600, đường DT769 thuộc ấp 9, xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Ng đánh lái điều khiển xe sang làn đường dành cho xe thô sơ thì va chạm với xe mô tô biển số 53X2-4025 do anh Phan Văn P điều khiển phía sau cùng chiều đi lên va chạm vào bánh sau bên phải của rơ moóc tự chế. Hậu quả, anh Phan Văn P được cấp cứu và tử vong tại Bệnh viện đa khoa Long Thành.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, dấu vết các phương tiện liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố và viện dẫn.

Bị cáo là chủ sở hữu xe máy kéo nông nghiệp bánh lốp (xe máy cày) nhãn hiệu SIBAURA SD4000ADO, biển số 60LA-4052, đã được đào tạo và được cấp chứng chỉ nghề bậc 3/7 về vận hành máy cày. Để phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo Ng đã tự hoán cải thay đổi kết cấu, nối thêm trục dẫn động, hàn nối lắp thêm rơ moóc chở hàng phía sau để tham gia lưu thông. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, đã có chứng chỉ đào tạo nghề về vận hành máy cày nên phải biết việc cải tạo và đưa máy cày tham gia giao thông khi chưa đăng kiểm, không đảm bảo an toàn là vi phạm pháp luật. Đồng thời, trong khi di chuyển, bị cáo phải chú ý quan sát, chỉ cho chuyển làn đường tại nơi cho phép và phải có tín hiệu báo trước, phải đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, bị cáo đã không làm được việc đó. Bị cáo điều khiển xe máy chuyên dùng đã thay đổi kết cấu, không đảm bảo an toàn đi trên làn đường xe hỗn hợp đường DT769 theo hướng Quốc lộ 51 đi Dầu Giây thuộc xã Bình Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Quá trình tham gia lưu thông, do có xe ô tô tải (không rõ biển số) chuyển hướng vào làn xe máy cày đang di chuyển nên bị cáo đánh lái sang phải vào làn xe thô sơ, va chạm với xe mô tô biển số 53X2-4025 do anh Phan Văn P điều khiển khiến anh Phúc tử vong. Hành vi đưa xe máy chuyên dùng không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia lưu thông đã vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; Hành vi điều khiển vào làn đường dành cho xe thô sơ, không có tín hiệu báo trước, không đảm bảo an toàn của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình hình trật tự giao thông trên địa bàn huyện Long Thành hiện nay rất phức tạp, hiện tượng vi phạm luật giao thông ngày càng tăng, làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân dân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng. Hành vi do bị cáo gây ra đã khiến anh Phan Văn P chết, gây đau khổ cho gia đình của người bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã chủ động đưa người bị hại đi cấp cứu và bồi thường thỏa đáng các chi phí để khắc phục hậu quả, được gia đình người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại là anh Phan Văn P khi điều khiển xe máy tham gia lưu thông trong máu có nồng độ cồn 0,61mg/100ml, vượt quá mức cho phép (theo Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014 trị số bình thường <50,230mg/100ml) nên để dẫn tới tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự.

Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy: bị cáo đã nhận ra sai lầm của mình, có nơi cư trú rõ ràng. Kể từ khi bị cáo được tại ngoại đến nay đã không vi phạm pháp luật, chấp hành tốt theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách kéo dài, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục để bị cáo có cơ hội sửa sai, trở thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường các chi phí mai táng, viện phí… cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Sau khi xác minh làm rõ nguồn gốc, cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho bị cáo 01 xe máy kéo nông nghiệp bánh lốp (xe máy cày) nhãn hiệu SIBAURA SD4000ADO, biển số 60LA-4052; trả lại cho chị Đặng Thị Ng (vợ của bị hại P) 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen là phù hợp.

- Trả lại cho chị cáo Ng 01 Chứng chỉ nghề bậc 3/7 do Trung tâm đào tạo Đất Việt cấp ngày 30/11/2016 hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với xe mô tô biển số 53X2-4025 do bị hại Phúc điển khiển chưa xác định được nguồn gốc nên Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ng 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Văn Ng cho Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Bị cáo Phạm Văn Ng phải thực hiện các Ng vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm Ng vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Ng 01 Chứng chỉ nghề bậc 3/7 do Trung tâm đào tạo Đất Việt cấp ngày 30/11/2016 (đang lưu trong hồ sơ vụ án).

Về án phí HSST: bị cáo phải nộp 200.000đ.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà S, chị Ng, anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ