- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hải - Huỳnh Văn Duy"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 211/2020/HNGĐ-ST Ngày 28-8-2020. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tùng;
2. Ông Lê Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1254/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2020; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1982. (có mặt)
Địa chỉ: T9, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh năm: 1978. (vắng mặt)
Địa chỉ: T9, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2020, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 30 tháng 01 năm 2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn và ngày càng gay gắt. Nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống; anh D có hành vi bạo lực đối với chị H và vợ chồng không còn chung sống, quan tâm nhau từ tháng 5/2020 đến nay. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn D.
+ Về con chung: Có 04 người con là Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002; Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004; Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 và Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015. Hiện nay các người con chung đang sống với anh D. Nếu Tòa án giải quyết được ly hôn thì chị H yêu cầu được nuôi cháu V; các cháu H1, P, K ở với ai thì theo nguyện vọng các cháu, nếu các cháu ở với chị H thì không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2020, bị đơn Huỳnh Văn D trình bày:
+ Về hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng anh Huỳnh Văn D thống nhất như lời trình bày của chị Trần Thị H.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do chị H đi làm rồi có mối quan hệ bất chính với người khác, nên thường xuyên xảy ra cải vã và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ giữa tháng 5/2020 đến nay. Anh D nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn của vợ chồng còn khả năng hàn gắn, nên đề nghị Tòa án cho vợ chồng đoàn tụ.
+ Về con chung: Có 04 người con là Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002; Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004; Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 và Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015. Hiện nay, các người con đang sống với anh D. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi 04 người con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; còn nếu chị H có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con thì tùy vào ý chí của chị H.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa hôm nay: Chị H giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu trên và không có ý kiến tranh luận; anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến trình bày trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn không có gì vi phạm, bị đơn từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Huỳnh Văn D.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Giao các cháu Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002; Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004; Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 cho anh Huỳnh Văn D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và giao cháu Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015 cho chị Trần Thị H được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Văn D và chị Trần Thị H không yêu cầu, nên không xét.
+ Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D không yêu cầu, nên không xét.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Huỳnh Văn D được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Huỳnh Văn D.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ ngày 30/01/2002 phù hợp với tài liệu, chứng cứ do chị H giao nộp là Giấy chứng nhận kết hôn số: 03, quyển số 01 của UBND xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ cấp cho Huỳnh Văn D và Trần Thị H ngày 30/01/2002. Nên hôn nhân giữa chị H và anh D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị H và anh D đều xác định thống nhất vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng không còn chung sống, quan tâm nhau từ tháng 5/2020 đến nay. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên yêu cầu được ly hôn với anh D; anh D cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, mâu thuẫn của vợ chồng còn có khả năng hàn gắn, nên đề nghị Tòa án cho vợ chồng đoàn tụ.
Xét mâu thuẫn giữa chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phương nơi chị H và anh D cư trú. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai và hòa giải” đến lần thứ 02 nhưng anh D không có mặt để Tòa án tiến hành hòa giải và tại phiên tòa anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Điều này chứng tỏ anh D bỏ mặt hậu quả hôn nhân của vợ chồng. Do đó, chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Huỳnh Văn D là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D đều trình bày thống nhất vợ chồng có 04 người con chung là Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002; Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004; Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 và Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015. Hiện nay các người con đang sống với anh Huỳnh Văn D. Xét lời khai của chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D phù hợp với tài liệu, chứng cứ do chị H giao nộp là Trích lục khai sinh số: 438/TLKS-BS, ngày 16/6/2020 của UBND xã MT, huyện PM cấp Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002 (bản sao); Trích lục khai sinh số: 439/TLKS-BS, ngày 16/6/2020 của UBND xã MT, huyện PM cấp Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004 (bản sao); Trích lục khai sinh số: 440/TLKS-BS, ngày 16/6/2020 của UBND xã MT, huyện PM cấp Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 (bản sao); Trích lục khai sinh số: 441/TLKS-BS, ngày 16/6/2020 của UBND xã MT, huyện PM cấp Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015 (bản sao).
Chị H yêu cầu được nuôi cháu V, còn các cháu H1, P, K ở với ai thì theo nguyện vọng các cháu. Anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi 04 người con chung.
Xét yêu cầu nuôi con của chị H và anh D đều chính đáng. Tuy nhiên, nguyện vọng của các cháu H1, K muốn được tiếp tục sống với anh D. Do đó, giao các cháu H1, K cho anh D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;
Đối với cháu Huỳnh Thanh P: Tòa án đã nhiều lần yêu cầu anh D, chị H đưa cháu P đến Tòa án để hỏi ý kiến nguyện vọng được sống với ba hay với mẹ. Nhưng cả anh D, chị H đều từ chối và giấu địa chỉ của cháu P. Anh D yêu cầu được nuôi cháu P và chị H cũng đồng ý giao cháu P cho anh D nuôi. Do đó, giao cháu P cho anh D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với cháu Huỳnh Trần Kim V: Cần được sự quan tâm chăm sóc của chị H tốt hơn anh D. Hơn nữa, anh D làm nghề biển, nên thường xuyên vắng mặt tại gia đình. Do đó, giao cháu V cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D đều không yêu cầu, nên không xét.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Huỳnh Văn D.
2. Về con chung: Có 04 người con là Huỳnh Thị Nguyệt H1, sinh ngày 24/9/2002; Huỳnh Thanh P, sinh ngày 20/8/2004; Huỳnh Trần Trọng K, sinh ngày 07/5/2007 và Huỳnh Trần Kim V, sinh ngày 20/6/2015.
Giao các cháu Huỳnh Thị Nguyệt H1, Huỳnh Thanh P và Huỳnh Trần Trọng K cho anh Huỳnh Văn D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.
Buộc anh Huỳnh Văn D giao cháu Huỳnh Trần Kim V cho chị Trần Thị H được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Văn D và chị Trần Thị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Văn D và chị Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; nhưng anh D, chị H không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị H, anh D. Khi cần thiết chị H, anh D có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Huỳnh Văn D không yêu cầu, nên không xét
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị H
(
dân sự
ly hôn
mà chị H
0001270 01
7 năm 2020
, tỉnh Bình Định.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND H.Phù Mỹ; - Các đương sự; - THADS H.Phù Mỹ; - UBND xã MT; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |