- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HON"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 211/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31. 10.2018. V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Mừng;
2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 589/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 08 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1994 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên lạc: Số nhà 74, tổ 5, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Lương Trọng N, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc D trình bày: Chị và anh N chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 12/2016 đến nay không tới lui thăm nhau. Gia đình hai bên có dàn xếp nhưng không được. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh N.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Lương Thị Như Q, sinh ngày 20/12/2011; cháu Lương Trọng V, sinh ngày 26/6/2013 và cháu Lương Trọng H, sinh ngày 20/7/2015. Hiện các cháu đang sống chung với anh N. Khi ly hôn chị đồng ý để anh N được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ anh Lương Trọng N đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh N vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Lê Thị Ngọc D khởi kiện anh Lương Trọng N, anh N cư trú ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Lương Trọng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N.
[2]. Về hôn nhân: Chị D và anh N sống chung với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh N là hợp pháp. Quá trình chung sống do anh, chị bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau, gia đình hai bên có dàn xếp nhưng vợ chồng không hàn gắn được tình cảm. Chị D và anh N không còn sống chung từ tháng 12/2016 đến nay không còn liên lạc, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung giữa chị D và anh N không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Diễm( Diểm) xin ly hôn với anh N, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn…”. Tại phiên tòa, chị D xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Lương Thị Như Q, sinh ngày 20/12/2011; cháu Lương Trọng V, sinh ngày 26/6/2013 và cháu Lương Trọng H, sinh ngày 20/7/2015. Hiện các cháu đang sống chung với anh N. Khi ly hôn chị đồng ý để anh N được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên, hiện nay cháu các cháu sống ổn định với anh N vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Đồng thời chị D đồng ý để anh N tiếp tục nuôi dưỡng ba cháu và anh N cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Q, cháu V và cháu H cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, N vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5]. Về tài sản chung: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về nợ chung: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Ghi nhận chị D xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị D và anh N thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Ngọc D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc D.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc D được ly hôn với anh Lương Trọng N.
Về con chung: Anh Lương Trọng N được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Lương Thị Như Q, sinh ngày 20/12/2011; cháu Lương Trọng V, sinh ngày 26/6/2013 và cháu Lương Trọng H, sinh ngày 20/7/2015. Hiện các cháu đang sống chung với anh N. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Ghi nhận chị D xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị D và anh N thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000037 ngày 10/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang. Chị D không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã H, huyện C; - Các đương sự; - Lưu./. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |