- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
N
N
N M
N N
- d - nh h T NH AN G ANG Bản án số: 210/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
N
N
N
N M
N N N N
N N
- Th nh ph n H i ng
sơ hẩm g m c :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái
- Thư ký ghi biên bản phiên òa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.
- Đại diện Viện kiểm sá nhân dân huyện An Phú ham gia phiên òa: Ông Huỳnh Minh Triết – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại Trụ s Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 gi a các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thuý Đ, sinh năm 1995 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp AH, xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Trang Văn N, sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 192, tổ 5, ấp AH, xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
N
N Ụ N:
Theo đơn kh i kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Đ trình bày: Hôn nhân của bà và ông N xác lập trên cơ s tự tìm hiểu, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 08 tháng 8 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng lên Bình Dương làm thuê, đến tháng 3 năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông N thường xuyên uống rượu say, ghen tuông vô cớ, đánh đập bà và bắt đầu sử dụng ma tuý. Hiện cả hai không còn sống chung với nhau từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay. Khi xảy ra mâu thuẫn gia đình cả hai biết, có khuyên can ông N nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay xin ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trang Văn Tr, sinh ngày 14/7/2011 hiện đang sống chung với bà Đ. Nay ly hôn, yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Tr. Về nghĩa vụ cấp dưỡng thì không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Trang Văn N không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu của bà Đ. Không tham gia các buổi hoà giải, phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ.
Cháu Trang Văn Tr có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ khi cha, mẹ ly hôn.
Kết quả xác minh tình trạng cư trú của ông N thể hiện ông vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa:
Bà Đ có đơn xin vắng mặt, bảo lưu ý kiến của mình như đã trình bày, không đồng ý đoàn tụ.
Ông N vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, quá trình hòa giải, xác minh, thu thập chứng cứ… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân gi a bà Đ và ông N có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể kéo dài, thời gian không chung sống đã lâu nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Giao cháu Tr cho bà Đ nuôi dưỡng. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí về hôn nhân gia đình.
N ẬN ỊN
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đ kh i kiện yêu cầu ly hôn, quyền nuôi con chung với ông N, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông N vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ, bà Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân gi a bà Đ và ông N xác lập trên cơ s tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp được công nhận theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của bà Đ xin ly hôn với ông N thì thấy: Trong đời sống hôn nhân gi a hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường phát sinh cãi vả và cả hai đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, thời gian không chung sống gi a hai bên không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình. Ông N đã được tống đạt các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo hoà giải nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Đ, không tham gia hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm gia đình.
Lời trình bày của bà Đ về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian không còn chung sống còn được xác nhận b i lời khai của ông Lê Văn Cu, theo đó trong thời gian chung sống gi a bà Đ và ông N phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên có đứng ra hàn gắn nhưng không thành và cả hai đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay.
Tại phiên hoà giải bà Đ vẫn gi nguyên yêu cầu ly hôn với ông N, không đồng ý đoàn tụ. Vì vậy có đủ cơ s xác định mục đích hôn nhân gi a hai bên không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm Tr nên yêu cầu ly hôn của bà Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về việc nuôi con chung, cấp dưỡng: Cháu Trang Văn Tr cho biết hiện cháu đang sống với mẹ, cuộc sống hiện tại rất tốt, được ăn học đầy đủ và có nguyện vọng muốn sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để tránh việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hư ng cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của con, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cháu Tr cho bà Đ được tiếp tục nuôi dạy.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Việc thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng…được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Đ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Trường hợp bà và ông N có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền kh i kiện trong một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các l trên:
ỊN :
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thuý Đ được ly hôn với ông Trang Văn N.
- Về con chung: Bà Đ được tiếp tục nuôi dạy cháu Trang Văn Tr, sinh ngày 14/7/2011.
Ông N không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Đ và người thân thích trong gia đình không được cản tr ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Bà Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0011816 ngày 25/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 115 do Uỷ ban nhân dân xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 08/8/2013 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
M.
ỒN É Ử SƠ ẨM * Nơi gủi:
ẨM
N –
Ọ
ÊN
- TAND tỉnh AG;
- VKSND tỉnh AG;
- VKS H. AP;
- THADS H. AP;
- UBND xã K, AP;
- Các đương sự;
- Lưu HS + VP.
Nguyễn uang Bả
N N N N
N
N
N M
N N
- d - nh h T NH AN G ANG Bản án số: 210/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
N
N
N
N M
N N N N
N N
- Th nh ph n H i ng
sơ hẩm g m c :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái
- Thư ký ghi biên bản phiên òa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.
- Đại diện Viện kiểm sá nhân dân huyện An Phú ham gia phiên òa: Ông Huỳnh Minh Triết – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại Trụ s Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 gi a các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thuý Đào, sinh năm 1995 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp An Hoà, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Trang Văn Nhỏ, sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 192, tổ 5, ấp An Hoà, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
N
N Ụ N:
Theo đơn kh i kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Đào trình bày: Hôn nhân của bà và ông Nhỏ xác lập trên cơ s tự tìm hiểu, không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 08 tháng 8 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng lên Bình Dương làm thuê, đến tháng 3 năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông Nhỏ thường xuyên uống rượu say, ghen tuông vô cớ, đánh đập bà và bắt đầu sử dụng ma tuý. Hiện cả hai không còn sống chung với nhau từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay. Khi xảy ra mâu thuẫn gia đình cả hai biết, có khuyên can ông Nhỏ nhưng không được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay xin ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trang Văn Tr, sinh ngày 14/7/2011 hiện đang sống chung với bà Đào. Nay ly hôn, yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Tr. Về nghĩa vụ cấp dưỡng thì không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Trang Văn Nhỏ không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu của bà Đào. Không tham gia các buổi hoà giải, phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ.
Cháu Trang Văn Tr có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ khi cha, mẹ ly hôn.
Kết quả xác minh tình trạng cư trú của ông Nhỏ thể hiện ông vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa:
Bà Đào có đơn xin vắng mặt, bảo lưu ý kiến của mình như đã trình bày, không đồng ý đoàn tụ.
Ông Nhỏ vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, quá trình hòa giải, xác minh, thu thập chứng cứ… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân gi a bà Đào và ông Nhỏ có mâu thuẫn trầm Tr, mục đích hôn nhân không thể kéo dài, thời gian không chung sống đã lâu nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đào theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Giao cháu Tr cho bà Đào nuôi dưỡng. Ông Nhỏ không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Đào không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Đào phải chịu án phí về hôn nhân gia đình.
N ẬN ỊN
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đào kh i kiện yêu cầu ly hôn, quyền nuôi con chung với ông Nhỏ, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nhỏ vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ, bà Đào có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân gi a bà Đào và ông Nhỏ xác lập trên cơ s tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp được công nhận theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của bà Đào xin ly hôn với ông Nhỏ thì thấy: Trong đời sống hôn nhân gi a hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường phát sinh cãi vả và cả hai đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, thời gian không chung sống gi a hai bên không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình. Ông Nhỏ đã được tống đạt các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo hoà giải nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Đào, không tham gia hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm gia đình.
Lời trình bày của bà Đào về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian không còn chung sống còn được xác nhận b i lời khai của ông Lê Văn Cu, theo đó trong thời gian chung sống gi a bà Đào và ông Nhỏ phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên có đứng ra hàn gắn nhưng không thành và cả hai đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay.
Tại phiên hoà giải bà Đào vẫn gi nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nhỏ, không đồng ý đoàn tụ. Vì vậy có đủ cơ s xác định mục đích hôn nhân gi a hai bên không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm Tr nên yêu cầu ly hôn của bà Đào là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về việc nuôi con chung, cấp dưỡng: Cháu Trang Văn Tr cho biết hiện cháu đang sống với mẹ, cuộc sống hiện tại rất tốt, được ăn học đầy đủ và có nguyện vọng muốn sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để tránh việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hư ng cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của con, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cháu Tr cho bà Đào được tiếp tục nuôi dạy.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà Đào không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Việc thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng…được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Đào không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Trường hợp bà và ông Nhỏ có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền kh i kiện trong một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà Đào phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các l trên:
ỊN :
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thuý Đào được ly hôn với ông Trang Văn Nhỏ.
- Về con chung: Bà Đào được tiếp tục nuôi dạy cháu Trang Văn Tr, sinh ngày 14/7/2011.
Ông Nhỏ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Đào và người thân thích trong gia đình không được cản tr ông Nhỏ trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Bà Đào phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0011816 ngày 25/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 115 do Uỷ ban nhân dân xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 08/8/2013 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
M.
ỒN É Ử SƠ ẨM * Nơi gủi:
ẨM
N –
Ọ
ÊN
- TAND tỉnh AG;
- VKSND tỉnh AG;
- VKS H. AP;
- THADS H. AP;
- UBND xã Khánh An, AP;
- Các đương sự;
- Lưu HS + VP.
Nguyễn uang Bả