- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 210/2026/HS-ST Ngày: 13-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hậu.
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2026/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Vũ T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại Cà Mau. HKTT: Ấp H, xã N, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Con ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị H; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị N, có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 27/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 25/01/2024, T chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt ngày 14/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T – Trại tạm giam số 1.
Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Vũ T là đối tượng sử dụng ma túy. Vào khoảng 19 giờ ngày 09/12/2025, T lên mạng xã hội nhắn tin đặt mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) với mục đích sử dụng. Người này đồng ý và hẹn giao ma túy tại điểm dừng xe buýt thuộc tổ I, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai thông qua người giao hàng, đồng thời yêu cầu T xóa hết tin nhắn giao dịch mua ma túy.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T đi đến địa điểm nêu trên gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) mặc áo G, đeo khẩu trang đến giao cho T 01 hộp giấy nhỏ như bao thuốc lá được dán băng keo. T đưa cho người ngày số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Sau khi mua, T đem số ma túy nêu trên về cất giấu tại phòng trọ thuộc tổ A, khu phố T, phường T, tỉnh Đồng Nai.
Đến khoảng 16 giờ ngày 14/12/2025, T cất giấu số ma túy nêu trên vào túi quần bên phải để đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến đoạn đường thuộc tổ B, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói nilong bên trong chứa chất màu trắng.
- 01 hũ nhựa chứa nước tiểu của T để giám định.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A05s màu đen, số I: 057533640248810, T sử dụng liên lạc mua ma túy.
* Tại bản Kết luận giám định số 3727/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,8615gam, loại Methamphetamine”.
Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSKV1 ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án; phù hợp với những nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 14/12/2025, tại đoạn đường thuộc tổ B, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Vũ T có hành vi tàng trữ 0,8615 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A05s màu đen, số I: 057533640248810, T sử dụng liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 12/12/2025 của Nguyễn Vũ T, xét thấy, sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, T không trình diện tại địa phương nơi cư trú nên Công an xã N, tỉnh Cà Mau không ra quyết định quản lý sau cai nghiện đối với T nên không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Công an phường T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với người đàn ông không rõ lai lịch, bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 14/12/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định tại gói niêm phong số 3726/KL-KTHS ngày 18/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A05s màu đen, số Imei: 057533640248810 của Nguyễn Vũ T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đ).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - VKSND khu vực 1 – Đồng Nai; - Công an tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thanh Thủy |