vanban.org

Bản án 210/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M đối với Bà Đặng Thị P về tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng dân sự vay tài sản.

Buộc bà Đặng Thị P phải trả cho bà Võ Thị M số tiền nợ hụi còn thiếu là 125.000.000 đồng (Một trăm, hai mươi lăm triệu đồng) và tiền vay gốc là 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng). Tổng cộng là 163.000.000 đồng (Một trăm, sáu mươi ba triệu đồng). Kể từ ngày bà M có đơn yêu cầu thi hành án cho đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M đối với Bà Đặng Thị P về tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng dân sự vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2025/DS-ST
Ngày 06-6-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi
và hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An

Ông Nguyễn Văn Mẫn

Ông Lê Phú Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/2025/TLST-DS ngµy 21 th¸ng 5 n¨m 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi và hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2025/QĐXXST- DS ngày 19 tháng 05 năm 2025. Giữa các đương sự:

- Nguyªn ®¬n: Bà Võ Thị M - sinh n¨m: 1963. Cã mÆt.

- BÞ ®¬n: Ông Nguyễn Văn H - sinh n¨m: 1973. Có đơn xin xét xử vắng mÆt

Bà Đặng Thị P - sinh năm: 1976. Cã mÆt

Cùng đÞa chØ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh K.

Néi dung vô ¸n:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Võ Thị M trình bày:

Bà Võ Thị M có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Văn H làm chủ hụi, cụ thể: bà M tham gia 03 dây hụi mùa, mỗi chân 5.000.000 đồng:

- Dây thứ nhất, áp hụi ngày 20/5/2017 (Âm lịch), có 17 hụi viên, đã mở hụi được 11 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, còn 04 lần chưa sổ, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 01 chân.

- Dây thứ hai, mở hụi ngày 20/4/2016 (Âm lịch), có 17 hụi viên, đã mở hụi được 14 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, còn 03 lần chưa sổ, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 01 chân.

- Dây hụi thứ 3, mở hụi ngày 25/01/2018 (Âm lịch), có 15 hụi viên, đã mở hụi được 09 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 02 chân.

Ngoài ra bà M còn tham gia chơi hai dây hụi tháng:

- Dây thứ nhất, mở hụi ngày 25/01/2020 (Âm lịch), có 24 hụi viên, đã mở hụi được 11 lần, 01 tháng sổ 01 lần, mỗi chân 3.000.000 đồng, hoa hồng chủ hụi là 01 triệu, bà M tham gia 01 chân, dây hụi này hiện đã mãn.

- Dây thứ hai, mở hụi ngày 29/3/2020 (Âm lịch), có 21 hụi viên, đã mở hụi được 09 lần, 01 tháng sổ 01 lần, mỗi chân 3.000.000 đồng, hoa hồng chủ hụi là 01 triệu, bà M tham gia 02 chân, dây hụi này hiện đã mãn.

Về tiền vay, khoảng năm 2019 bà M có cho bà P vay số tiền gốc là 50.000.000 đồng, bà P có trả cho bà 10.000.000 đồng và sau khi bể hụi có trả thêm 2.000.000 đồng, hiện nay bà P nợ bà số tiền vay gốc 38.000.000 đồng. Bà M xác định tiền vay 38.000.000 đồng thì bà trực tiếp giao dịch với bà P nên bà M chỉ yêu cầu bà P trả cho nợ vay cho bà.

Tất các dây hụi nêu trên thì bà M chưa hốt phần nào. Ngày 29/11/2019 thì bà P đã tuyên bố bể hụi. Sau đó, bà và bà P có gặp nhau kết toán nợ hụi, bà P có làm giấy biên nhận thể hiện còn nợ số tiền hụi tổng cộng các phần hụi mà bà M tham gia là 199.000.000 đồng và tiền vay là 40.000.000 đồng.

Theo đơn khởi kiện, bà M cho rằng thời điểm giao dịch ông H và bà P là vợ chồng nên yêu cầu ông H và bà P phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ hụi cho bà số tiền hụi là 310.000 đồng và yêu cầu bà P phải trả tiền vay là 40.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà M xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà P, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P phải trả số tiền hụi còn thiếu là 125.000.000 đồng và tiền vay là 38.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bà H tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông H do bà không giao dịch trực tiếp với ông H. Tại bản tự khai và phiên hòa giải, bị đơn - ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông H xác định lời trình bày của bà M về thời gian và quá trình chơi hụi và tiền vay thì ông đều không rõ. Do đó, bà M khởi kiện ông cùng chịu trách nhiệm trả tiền hụi với bà P thì ông H không đồng ý. Bị đơn - bà Đặng Thị P trình bày: Bà P xác định lời trình bày của bà M về thời gian và quá trình chơi hụi là đúng. Nay bà M khởi kiện bà P xác định số tiền hụi các dây như bà M khai là đúng. Bà P thừa nhận biên nhận bà M cung cấp cho Tòa án thể hiện nội dung bà thừa nhận còn nợ bà M số tiền hụi là 199.000.000 đồng và tiền vay là 40.000.000 đồng là đúng chữ viết của bà P. Bà P đồng ý trả cho bà M tổng số tiền hụi là 125.000.000 đồng và tiền vay gốc là 38.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi đã đóng xong cho bà M, bà P không có ý kiến tranh chấp gì. Quá trình bà P giao dịch tiền hụi và tiền vay với bà M do bà P trực tiếp thực hiện. Nay ông H không đồng ý cùng chịu trách nhiệm trả nợ thì bà P cũng không có ý kiến, bà P đồng ý tự chịu trách nhiệm trả nợ cho bà M. Bà P yêu cầu trả dần mỗi tháng theo khả năng, khi nào bán được tài sản thì bà sẽ trả tiền cho bà M.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] VÒ thñ tôc tè tông: Bà Võ Thị M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Đặng Thị P phải trả số tiền nợ hụi và tiền vay còn thiếu đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và hợp đồng dân sự vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện G, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 §iÒu 35, Điều 39 cña Bé luËt Tè tông d©n sù, T ¸n nh©n d©n huyÖn Giång RiÒng, tỉnh Kiên Giang thô lý gi¶i quyÕt vô ¸n theo thñ tôc s¬ thÈm lµ ®óng trình tự, thñ tôc.

Bị đơn - ông H đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng nhưng ông H có đơn xin xét xử vắng mặt bận công việc. Xét thấy ông H đã có bản tự khai trình bày ý kiến, việc vắng mặt của ông H không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] VÒ néi dung:

[2.1] Xét hợp đồng góp hụi:

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự bà M và bà P đều thừa nhận sự việc tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng góp hụi cụ thể như sau:

Bà M có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà Đặng Thị P và ông Nguyễn Văn H làm chủ hụi, cụ thể bà M tham gia 03 dây hụi mùa, mỗi chân 5.000.000 Đồng:

- Dây thứ nhất, áp hụi ngày 20/5/2017 (Âm lịch), có 17 hụi viên, đã mở hụi được 11 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, còn 04 lần chưa sổ, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 01 chân.

- Dây thứ hai, mở hụi ngày 20/4/2016 (Âm lịch), có 17 hụi viên, đã mở hụi được 14 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, còn 03 lần chưa sổ, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 01 chân.

- Dây hụi thứ 3, mở hụi ngày 25/01/2018 (Âm lịch), có 15 hụi viên, đã mở hụi được 09 lần, 03 tháng sổ 01 lần (01 năm sổ 03 lần theo vụ lúa), hoa hồng chủ hụi là 02 triệu, dây hụi này hiện đã mãn. Bà M tham gia 02 chân.

Ngoài ra bà M còn tham gia chơi hai dây hụi tháng:

- Dây thứ nhất, mở hụi ngày 25/01/2020 (Âm lịch), có 24 hụi viên, đã mở hụi được 11 lần, 01 tháng sổ 01 lần, mỗi chân 3.000.000 đồng, hoa hồng chủ hụi là 01 triệu, bà M tham gia 01 chân, dây hụi này hiện đã mãn.

- Dây thứ hai, mở hụi ngày 29/3/2020 (Âm lịch), có 21 hụi viên, đã mở hụi được 09 lần, 01 tháng sổ 01 lần, mỗi chân 3.000.000 đồng, hoa hồng chủ hụi là 01 triệu, bà M tham gia 02 chân, dây hụi này hiện đã mãn.

Tất các dây hụi nêu trên thì bà M chưa hốt phần nào. Ngày 29/11/2019 thì bà P đã tuyên bố bể hụi. Sau đó, bà và bà P có gặp nhau kết toán, khấu trừ nợ hụi, bà P có làm giấy biên nhận thể hiện còn nợ số tiền hụi tổng cộng các phần hụi mà bà M tham gia là 199.000.000 đồng và tiền vay là 40.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết bà P xác nhận ý kiến trình bày của bà M là đúng chữ viết trong biên nhận nợ bà M cung cấp cho Tòa án là đúng của bà P viết nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy tại thời điểm giao kết các bên tự nguyện giao kết, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng góp hụi đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Bà P với tư cách là chủ hụi nhưng không duy trì được dây hụi, chấm dứt dây hụi mà không có sự đồng ý của thành viên tham gia chơi hụi là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi theo quy định tại Điều 11, khoản 3, 4 Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường.

Bà P cho rằng nguyên nhân không duy trì dây hụi, không thể trả nợ 01 lần theo yêu cầu của bà M là do các thành viên tham gia chơi hụi không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi cho bà nên làm mất khả năng thanh toán, duy trì dây hụi. Xét thấy lý do bà P đưa ra là không phù hợp. Bởi lẽ bà P là chủ hụi, có nghĩa vụ duy trì và giao tiền hụi cho các thành viên chơi hụi khi đến lượt lĩnh hụi. Việc chậm thực hiện nghĩa vụ góp hụi giữa bà P và các hụi viên khác nếu có tranh chấp thì bà P có quyền khởi kiện và sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Do đó, bà M yêu cầu bà P phải trả số tiền hụi còn thiếu là 125.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Quá trình bà P trực tiếp giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng góp hụi với các thành viên chơi hụi thì ông H cho rằng không biết, quá trình làm việc ông H không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới cùng trả nợ với bà P. Tại phiên tòa, bà M tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông H nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà M đối với ông H về hợp đồng góp hụi.

[2.2] Xét hợp đồng vay tài sản:

Quá trình giải quyết vụ án, bà M và bà P đều thừa nhận khoảng năm 2019 bà M có cho bà P vay số tiền gốc là 50.000.000 đồng, không thỏa thuận thời hạn trả nợ nên đây là hợp đồng dân sự không kỳ hạn. Bà P có trả cho bà M được 10.000.000 đồng và sau khi bể hụi bà P có trả thêm 2.000.000 đồng, Bà P thừa nhận còn nợ bà M số tiền gốc là 38.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi đã đóng bà P và bà M tự thỏa thuận thực hiện với nhau xong, không có ý kiến tranh chấp và không có yêu cầu phản tố nên yêu cầu khởi kiện của bà M đối với bà P về trả số tiền vay gốc còn lại là 38.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.

Bà M không yêu cầu bà P phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy bà M khởi kiện yêu cầu bà P phải trả số tiền nợ hụi và tiền vay còn thiếu là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 469 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, điểm e khoản 1 Điều 16 và khoản 3 Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà P phải trả cho cho bà M số tiền hụi là 125.000.000 đồng và tiền vay gốc là 38.000.000 đồng.

Kể từ ngày bà M có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà P không trả đủ tiền thì bà P còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà P thừa nhận nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần nhưng không xác định được thời gian và cách thức thanh toán nợ, bà M không đồng ý nên sẽ được xem xét khi thi hành án.

Xét thấy nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà M đối với ông H về tranh chấp hợp đồng góp hụi, và một phần yêu cầu khởi kiện của bà M đối với bà P về số tiền hụi là 185.000.000 đồng và tiền vay là 2.000.000 đồng.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 163.000.000 đồng x 5% = 8.150.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 227, Điều 271, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, khoản 2 Điều 469 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 16 và khoản 3 Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M đối với Bà Đặng Thị P về tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng dân sự vay tài sản.

Buộc bà Đặng Thị P phải trả cho bà Võ Thị M số tiền nợ hụi còn thiếu là 125.000.000 đồng (Một trăm, hai mươi lăm triệu đồng) và tiền vay gốc là 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng). Tổng cộng là 163.000.000 đồng (Một trăm, sáu mươi ba triệu đồng).

Kể từ ngày bà M có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bà P không trả đủ tiền thì bà P còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M đối với ông Nguyễn Minh H1 về tranh chấp hợp đồng góp hụi, và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M đối với bà Đặng Thị P về số tiền hụi là 185.000.000 đồng và tiền vay gốc là 2.000.000 đồng.

3. Về án phí: Bà Đặng Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 163.000.000 đồng x 5% = 8.150.000 đồng (Tám triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng)

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, bà M và bà P được tính kể từ ngày tuyên án là ngày 06/6/2025, ông H1 được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ