- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Tran Chi Thuc- Tran Cam Linh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 34; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/ NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án…
- Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 210/2024/DS-ST Ngày: 14 - 11 - 2024 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Kim Son
2. Ông Nguyễn Văn Đen
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quỳnh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 199/2024/TLST - DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 731/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Chí Th, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: Số AB ấp TT B, xã TTh, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
+ Bà Trần Cẩm L, sinh năm 1978 (có mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Thùy H, sinh năm 1998
Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Bà Trần Cẩm L, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Số CD ấp TT B, xã TTh, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Ngày 04/4/2024 bà Trần Cẩm L và chị Nguyễn Thị Thùy H có hành vi đăng dòng trạng thái trên trang mạng xã hội Facebook đồng thời kèm theo những bình luận khẳng định ông và vợ ông giết chết cha ruột của bà L, đồng thời cũng là cha ruột của ông. Sau khi bà L đăng dòng trạng thái nêu trên thì kèm theo đơn tố cáo gửi đến Đảng ủy xã TTh. Sau đó, ông đã bị kỷ luật Đảng với lý do vi phạm đạo đức, lối sống. Cùng thời điểm đó, đến thời điểm bố trí lại nhiệm vụ Phó Trưởng ấp, ông bị cho thôi giữ nhiệm vụ Phó trưởng ấp TT B. Xuất phát từ đơn tố cáo kèm dòng trạng thái của bà L và chị H đẫn đến việc ông không còn được tín nhiệm, không được giới thiệu giữ nhiệm vụ Phó trưởng ấp, dẫn đến việc ông bị mất thu nhập. Ông yêu cầu bà L và chị H bồi thường số tiền do ông bị mất thu nhập trong 04 tháng là 8.700.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 7.000.000 đồng. Đồng thời, phải xin lỗi ông công khai trước Ban nhân dân ấp TT B và trên cổng thông tin điện tử.
Bà Trần Cẩm L trình bày: Bà thừa nhận có dùng tài khoản facebook tên Cẩm L đăng dòng trạng thái “Ba ơi con bất hiếu đứng nhìn người ta giết cha mình. Ba ơi tha lỗi cho con”. Tuy nhiên, đó là thời điểm cha bà chết, tâm trạng bà quá bối rối, không làm chủ được bản thân, sau khi đăng dòng trạng thái đó thì bà cũng không biết ai là người trả lời những bình luận của bạn bè trên facebook. Vì bà sử dụng điện thoại không cài mật khẩu nên con cháu đều có thể sử dụng. Bà thừa nhận việc đăng dòng trạng thái trên trang mạng xã hội facebook như vậy là không đúng, bà thừa nhận sai với quy định của pháp luật là đăng tải thông tin sai sự thật và hiện nay dòng trạng thái đó đã được bà xóa bỏ. Tuy nhiên, việc ông Th bị cho thôi giữ nhiệm vụ phó ấp là xuất phát từ sự không tín nhiệm của địa phương, không liên quan đến dòng trạng thái của bà. Việc ông Th yêu cầu bồi thường thiệt hại do mất việc làm là không liên quan đến lỗi của bà nên bà không đồng ý bồi thường. Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, bà cũng không đồng ý, bởi vì dòng trạng thái bà đăng là do bức xúc khi thấy ông Th cãi nhau với cha, khiến cha đau buồn mà chết. Theo bà, ông Th không có sự tổn thất nào về tinh thần, nếu có xuất phát từ việc bà tố cáo khiến ông Th bị kỷ luật thì không liên quan đến dòng trạng thái của bà mà là do ông Th vi phạm đạo đức, lối sống nên tổ chức Đảng và Ủy ban mới kỷ luật và không tín nhiệm. Bà đồng ý xin lỗi ông Th tại phiên tòa, không đồng ý xin lỗi theo yêu cầu ông Th trên cổng thông tin điện tử vì bà không còn sử dụng mạng xã hội và không biết bất cứ trang tin điện tử nào.
Chị Nguyễn Thị Thùy H trình bày: Thời điểm ông ngoại chị chết thì chị không có ở nhà. Ngày ông ngoại chị mất, chị được mẹ điện thoại thông báo do cậu của chị là ông Th và mợ là bà T cãi nhau với ông ngoại nên ông ngoại ngã ra chết. Vì lúc đó tâm trạng quá bức xúc nên chị có đăng dòng trạng thái trên mạng xã hội facebook, nội dung cho rằng ông Th và bà T giết ông ngoại. Sau đó, lãnh đạo Đảng ủy xã TTh có gọi điện thoại khuyên chị gỡ bỏ dòng trạng thái đó nên chị đã chấp hành và gỡ xuống. Nay chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Th.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nội dung: Căn cứ Điều 6, khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 34, Điều 584, Điều 585, Điều 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/ NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quán lý và sử dụng áo phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Th về việc buộc bà L và chị H công khai xin lỗi. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th đối với số tiền mất thu nhập 8.700.000 đồng và tổn thất tinh thần 7.000.000 đồng do không có chứng cứ chứng minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Chí Th khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với bị đơn bà Trần Cẩm L và chị Nguyễn Thị Thùy H có nơi cư trú tại ấp TT B, xã TTh, huyện TL, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL.
Về nội dung: Ông Th yêu cầu bà L và chị H phải xin lỗi ông về việc đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông, đồng thời bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần.
Bà L và chị H thừa nhận có đăng tải thông tin không đúng về ông Th. Cả hai đã nhận thấy được hành vi của mình là sai nên đã xóa bỏ những thông tin đó trên trang mạng xã hội facebook. Đồng thời, bà L đồng ý xin lỗi ông Th tại phiên tòa, không đồng ý đăng tải lời xin lỗi trên cổng thông tin điện tử vì bà không còn sử dụng bất kỳ mạng xã hội nào và không biết đến trang thông tin điện tử nào.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà L và chị H thừa nhận có đăng tải thông tin không đúng về ông Th làm ảnh hưởng đến uy tín của ông Th được pháp luật bảo vệ. Theo khoản 5 Điều 34 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”. Vì vậy, yêu cầu của ông Th về việc buộc bà L và chị H xin lỗi, cải chính công khai là có căn cứ được chấp nhận.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó”. Tuy nhiên, hiện nay bà L không còn sử dụng trang mạng xã hội facebook và không còn tài khoản đã đăng tải thông tin trên, vì vậy cần buộc bà L công khai xin lỗi ông Th tại Nhà văn hóa ấp TT B theo yêu cầu của ông Th. Chị H đã gỡ bỏ bài đăng nên cần buộc chị H đăng tải thông tin cải chính đối với thông tin sai sự thật trên trang mạng xã hội facebook bằng chính tài khoản của mình.
Xét yêu cầu của ông Th về việc buộc bà L và chị H bồi thường số tiền mất thu nhập do bị thôi cho giữ nhiệm vụ phó trưởng ấp TT B là 8.700.000 đồng.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Quy định nêu trên được áp dụng trong trường hợp có xảy ra thiệt hại trong thực tế và thiệt hại đó phải do nguyên nhân chính từ hành vi có lỗi của người đăng tải thông tin sai sự thật gây ra (tức là có mối quan hệ nhân quả với nhau).
Căn cứ tài liệu ông Th giao nộp, lời trình bày của ông Th, bà L thì sự việc ông Th bị Đảng ủy xã TTh kỷ luật là kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của bà L về việc ông Th có thái độ lớn tiếng, chửi thề xúc phạm ông B (cha ông Th) và bà L. Sự việc do bà L tố cáo và cung cấp clip ghi âm. Qua xác minh, Đảng ủy xã có kết luận về nguyên nhân do ông Th thường xuyên có rượu bia nên không làm chủ được hành vi, gây mất đoàn kết nội bộ trong gia đình; vi phạm về đạo đức, nếp sống văn minh; gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và tổ chức nơi ông Th công tác. Từ đó, Đảng ủy đã quyết định kỷ luật cách chức Chi ủy viên Chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025. Mặc khác, Ngày 23/4/2024 ông Th bị cho thôi giữ nhiệm vụ Phó trưởng ấp TT B, lý do không được trưởng ấp và Chi bộ ấp giới thiệu lại khi hết nhiệm kỳ. Như vậy, sự việc ông Th bị cho thôi giữ nhiệm vụ Phó ấp và kỷ luật cách chức Chi ủy viên đã được kết luận là xuất phát từ lỗi của bản thân ông Th và không được tín nhiệm giới thiệu. Không liên quan đến dòng trạng thái của bà L và chị H. Mặc dù, tại khoản 1 điều 592 Bộ luật dân sự có quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại về khoản “thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút”. Tuy nhiên, hậu quả mất việc làm, mất thu nhập của ông Th không có mối quan hệ nhân quả với việc bà L và chị H đăng dòng trạng thái trên tài khoản facebook nên không đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu này của ông Th.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần mà ông Th phải gánh chịu. Ông Th không có tài liệu chứng minh được tổn thất tinh thần ông phải gánh chịu là như thế nào dẫn đến hậu quả ra sao để yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu này của ông Th.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông Th được chấp nhận một phần nên cần buộc bà L và chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 34; Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 592 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/ NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Chí Th.
1.1. Buộc bà L công khai xin lỗi ông Trần Chí Th tại nhà văn hóa ấp TT B, xã TTh, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
1.2. Buộc chị Nguyễn Thị Thùy H đăng tải thông tin cải chính đối với thông tin sai sự thật về ông Th vào ngày 04/4/2024 bằng tài khoản cá nhân của mình (Thùy H) trên trang mạng xã hội facebook.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th về việc buộc bà L và chị H bồi thường thiệt hại do mất thu nhập 8.700.000 đồng và tổn thất tinh thần 7.000.000 đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Cẩm L và chị Nguyễn Thị Thùy H mỗi người phải nộp 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TL.
4. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện TL; - TAND TPCT; - Cơ quan THA huyện TL; - Lưu: HS; VT-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Diễm |