vanban.org

Bản án 210/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng:

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (C6) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 210/2023/HS-ST
Ngày 21-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Biên

2. Ông Nguyễn Văn Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1970; tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Thôn A, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa 06/10: con ông: Nguyễn Văn T và bà Vương Thị L (đều đã chết); có vợ: Phạm Thị B, sinh năm 1982; bị cáo chưa có con;

Tiền án:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 126 ngày 06/4/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 47 ngày 18/5/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 126 ngày 26/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 164 ngày 04/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 108 ngày 28/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 94 ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 86 ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2022.

Nhân thân:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 16/10/1992 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 10 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân".

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 109 ngày 08/11/1995, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân".

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2023; Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Thị B, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không có; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Thôn A, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: Không biết chữ; con ông: Phạm Văn S và bà Phạm Thị H (đều đã chết); có chồng: Nguyễn Văn C, sinh năm 1970; có 01 con sinh năm 2004.

Tiền án:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 275 ngày 29/11/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; chưa chấp hành phạt bổ sung và án phí.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; chấp hành xong án phạt tù ngày 20/9/2022.

Tiền sự: Không

Nhân thân:

+ Ngày 03/3/2001 bị Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 180 ngày 26/8/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2023; Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Vũ Thị M, sinh năm 1991; tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Thôn N, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa 11/12: con ông: Vũ Đình H1, sinh năm 1962 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1962; có chồng: Nghiêm Đình T1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 56 ngày 27/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2022.

Nhân thân:

+ Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án khác; Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Đình C2, sinh năm 1985; tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa 12/12: con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1960; con bà: Trần Thị H2, sinh năm 1962; có vợ: Vũ Thị H3, sinh năm 1985; có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Năm 2014 bị Công an thành phố H xử phạt vi pha ̣m hành chinh về hành

́ vi gây rối trâ ̣t tự công cô ̣ng.

+ Năm 2015 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chinh về

́ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh năm 1989; tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Số nhà B, đường Q, tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa 12/12: con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1960; con bà: Chu Thị H4, sinh năm 1964.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 59 ngày 12/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1969; tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa 10/12: bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 1989 đến 1991; con ông: Nguyễn Văn H5 và bà Nguyễn Thị S1 (đều đã chết); có vợ: Nguyễn Thị H6, sinh năm 1972; Có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 150 ngày 29/10/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/8/2017; đã chấp hành xong các quyết định của bản án và được xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Đào Văn H7, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đông Lý, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

2. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Phú Mỹ 1, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

3. Ông Đỗ Đức T2, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố số 2, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

4. Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Nguộn, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

5. Ông Trần Văn H8, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Phúc Bé, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

6. Ông Thân Đức P, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Phúc Hạ, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

7. Ông Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 55, đường Đặng Thị Nho, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

8. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Lô 174, làn 3, đường Thân Nhân Trung, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

9. Chị Chu Thị H4, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang

10. Anh Nguyễn Quang D2, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C và Phạm Thị B:

Vợ chồng Nguyễn Văn C và Phạm Thị B đều sử dụng ma tuý và mua ma túy rồi bán lại cho người khác. Ngày 27/02/2023, C mua của Vũ Thị M 17 triệu đồng ma túy, loại heroin. Ngày 13/3/2023, C mua của Nguyễn Đình C2 30 triệu đồng ma túy, loại heroin và ma túy tổng hợp. C đem số ma túy này về nhà rồi chia thành các gói nhỏ vừa để sử dụng vừa bán cho người người khác. Kết quả điều tra xác định C và B đã bán ma túy trong những ngày sau đây:

Ngày 13/3/2023: Khoảng hơn 07 giờ ngày 13/3/2023, Thân Đức P, sinh năm 1956, trú ta ̣i thôn P, xã S, thành phố B đi xe máy đến nhà C mua ma túy. C bán cho P 01 gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng. P đã sử dụng hết gói ma túy.

Khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, Trần Văn H8, sinh năm 1972, trú ta ̣i thôn P, xã S, thành phố B gọi điện thoại cho C bảo bán cho Trần Văn H8 01 viên ma tuý ngựa và 01 gói ma túy heroin. H8 bảo C giao ma túy cho H8 tại khu vực bờ ao ở thôn P, xã S. C đi xe máy ra đưa cho H8 01 viên ma tuý ngựa và 01 gói ma túy heroin. H8 đưa cho C 200.000 đồng. H8 tự sử dụng số ma túy này.

Ngày 14/3/2023: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/3/2023, Nguyễn Văn D1, sinh năm 1991, trú ta ̣i tổ dân phố P, phường D, thành phố B đi xe máy đến nhà C để mua ma tuý. Khi D1 đi đến đầu ngõ nhà C thì gă ̣p Đào Văn H7, sinh năm 1989, trú ta ̣i thôn Đ, xã T, thành phố B và mô ̣t thanh niên không quen biết cũng đi xe máy đến nhà C đến mua ma tuý. D1 đi vào cổng nhà C hỏi mua ma tuý. C từ trong sân đi ra thi D1 đưa qua khe cổng 01 tờ tiền mệnh giá 200.000

̀ đồng và nói “để cho em cái”. C cầm tiền và lấy 02 gói heroine trong chiếc hô ̣p nhựa màu đen để trong túi quần rồi đưa cho D1 qua khe cổng. Sau khi D1 mua ma túy xong đi ra thì nam thanh niên và H7 cũng đi vào hỏi mua ma tuý. Mỗi người đưa cho C 100.000 đồng qua khe cổng thì được C đưa cho mỗi người 01 gói ma túy heroine. Sau đó, C cất giấu chiếc hô ̣p nhựa đựng ma tuý để ta ̣i vi ̣ tri

́ bai tro đốt rã

́c ở đầu hồi nhà.

Đối với Đào Văn H7 và Nguyễn Văn D1 sau khi mua ma túy xong trên đườ ng ra về thì gặp nhau. D1 hỏi H7 “có biết chỗ nào sử du ̣ng ma tuý không” thi H7 bảo đi ra khu vực bờ sông P. Hai người cùng nhau đi đến khu vực bờ ̀ sông thuô ̣c tổ dân phố số C, phường M, thành phố B và tự sử du ̣ng ma tuý xong thi bi ̣ tổ công tác của Đô ̣i cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành ̀ phố B phát hiê ̣n lập biên bản và thu giữ:

- 01 mảnh giấy ba ̣c có mô ̣t mă ̣t màu trắng, mô ̣t mă ̣t màu vàng bám dinh

́ chất bô ̣t màu trắng (là mảnh giấy dùng để gói ma tuý H7 vừ a sử du ̣ng) được cho vào phong bi ký hiê ̣u “KT1” niêm phong dán kin.

̀

́

- 02 mảnh giấy ba ̣c đều có mô ̣t mă ̣t màu trắng, mô ̣t mă ̣t màu vàng bám dinh chất bô ̣t màu trắng (là gói giấy đựng ma tuý D1 vừ a sử du ̣ng) được cho vào ́ 01 phong bi ký hiê ̣u “KT2” niêm phong dán kin.

̀

́

Khoảng 09 giờ ngày 14/3/2023, Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1975, trú ta ̣i số nhà E, đường Đ, phường N, thành phố B đi đến nhà C để mua ma tuý. Lúc này, C đang ở trong bếp còn B đứng ở sân nhà. N1 đứng ở cổng go ̣i thi B đi ra.

̀ N1 đưa cho B 100.000 đồng để mua 01 gói ma túy. B cầm tiền và đi ra vi ̣ tri baĩ

́ tro đốt rác ở đầu hồi nhà lấy 01 gói ma tuý heroine trong hô ̣p nhựa màu đen rồi đi ra cổng đưa cho N1 qua khe cổng. Hồng Ninh mua ma túy xong đi ra ngoài.

Một lúc sau, Đỗ Đức T2, sinh năm 1979, trú ta ̣i tổ B, phường M, thành phố B đi xe máy đến nhà C để mua ma túy thì gặp Phạm Văn L1, sinh năm 1976, trú ta ̣i thôn N, xã D, thành phố B cũng đi xe máy đến nhà C để mua ma tuý. Bẩy biết có ngườ i đến mua ma tuý nên đi ra cổng đến chỗ T2 và L1 hỏi “lấy mấy cái”. T2 nói “cho em mô ̣t cái” và đưa cho B 100.000 đồng. L1 mua 02 gói ma túy và đưa cho Bẩy 200.000 đồng. Bẩy lấy 03 gói ma tuý heroine từ hô ̣p nhựa ra đưa cho T2 01 gói ma túy và đưa cho L1 02 gói ma túy. Sau đó, B cầm chiếc hô ̣p nhựa màu đen đựng ma tuý để ta ̣i vi ̣ tri bai tro đỗ

́t rác ở đầu hồi nhà.

́ Đỗ Đức T2 và Phạm Văn L1 sau khi mua ma túy thì cùng nhau đi đến khu vực bờ sông thuô ̣c tổ Đ, phường T, thành phố B và tự sử du ̣ng ma tuý xong thi bi ̣ tổ

̀ công tác của Đô ̣i cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phát hiện lập biên bản và thu giữ:

- 02 mảnh giấy ba ̣c đều có mô ̣t mă ̣t màu trắng, mô ̣t mă ̣t màu vàng bám dinh chất bô ̣t màu trắng ở ngay ta ̣i nền đất ca ̣nh chỗ L1 đứ ng (L1 khai là mảnh ́ giấy để đựng ma tuý) được cho vào phong bi ký hiê ̣u “KT3” niêm phong.

̀

- 01 mảnh giấy ba ̣c có mô ̣t mă ̣t màu trắng, mô ̣t mă ̣t màu vàng bám dinh

́ chất bô ̣t màu trắng ca ̣nh chỗ T2 đứ ng (T2 khai là mảnh giấy đựng ma tuý vừ a sử du ̣ng) được cho vào phong bi ký hiê ̣u “KT4” niêm phong.

̀

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trưng cầu giám định vật chứng nghi chứa chất ma túy đã thu giữ của các đối tượng sử dụng.

Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trong các phong bì có ký hiệu “KT1”, “KT2”, “KT3”, “KT4” đã được niêm phong gửi giám định đều không tìm thấy chất ma túy.

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 14/3/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của vợ chồng Nguyễn Văn C, Phạm Thị B tại thôn A, xã S, thành phố B đã thu giữ:

- T3 ta ̣i túi quần bên phải Phạm Thị B đang mă ̣c nhiều tờ tiền có mê ̣nh giá khác nhau được cho vào phong bi niêm phong ký hiê ̣u “Tiền Bẩy 1” (kiểm tra

̀

xác định tổng số là 1.300.000 đồng).

- T3 ta ̣i ngăn tủ nhựa trong nhà nhiều tờ tiền mê ̣nh giá khác nhau được cho vào phong bi niêm phong ký hiê ̣u “Tiền Bẩy 2” (kiểm tra xác định tổng số

̀ là 1.850.000 đồng).

- 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đâ ̣y, bên trong đựng nhiều mảnh giấy ba ̣c và 01 chiếc kéo; 01 dao lam; 01 đoa ̣n ống hút nhựa màu tim mô ̣t đầu cắt vát có

́ bám dính chất bột màu trắng được cho vào phong bì niêm phong ký hiê ̣u “KX”.

- T3 giữa hai mă ̣t thớ t gỗ ta ̣i vi ̣ tri ngoài vườ n 01 tờ tiền mệnh giá 2.000

́

đồng bên trong đựng 01 gói giấy ba ̣c có mô ̣t mă ̣t màu vàng, mô ̣t mă ̣t màu trắng bên trong đựng chất cu ̣c bô ̣t màu trắng được cho vào phong bi niêm phong ký

̀ hiê ̣u “KX01”.

- T3 trong ngăn tủ la ̣nh ở trong nhà 01 chai nhựa có nắp đâ ̣y màu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” đựng chất lỏng màu hồng được niêm phong.

- Thu tại vị tri bai tro đốt rã

́c đầu hồi nhà 01 hô ̣p nhựa màu đen bên ngoài

́ có chữ và số; bên trong đựng 12 gói giấy ba ̣c đều có mô ̣t mă ̣t màu trắng, mô ̣t mă ̣t màu vàng bên trong mỗi gói đều đựng chất cu ̣c bô ̣t màu trắng được cho vào phong bi niêm phong ký hiệu “KX02”.

̀

- Thu tại ngăn tủ gỗ trong nhà 55 ống nước cất, 59 xi lanh nhựa chưa sử du ̣ng.

- 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Sam Sung Galaxy A03s, số Imei 1: 357516641101906, Imei 2: 358193141101908 lắp sim số 0395.294.982 (thu của Phạm Thị B).

- Nhiều vỏ túi nilon có ranh khoá nhự̃

a và viền màu xanh, nhiều ống hút nhựa có màu khác nhau.

Ngày 15/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C, Phạm Thị B về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra tạm giữ của C 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Attina, biển số 98M4 – 4014; số tiền 300.000 đồng; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u VSMART, lắp sim số 0876.285.121 và số 0387.670.282.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ tại nơi ở của vợ chồng Nguyễn Văn C, Phạm Thị B khi khám xét.

Kết luận giám định số 485/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định:

- Không tìm thấy chất ma túy trên 01 con dao lam được đựng trong 01 túi nilon màu trắng.

- Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trên 01 đoạn ống nhựa màu tím, một đầu cắt vát, không xác định được khối lượng của mẫu.

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX01” đã được niêm phong gửi giám định:

Chất cục bô ̣t màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, được đựng trong 01 gói được gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng là ma túy, có khối lượng 0,042 gam, loại Heroin.

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX02” đã được niêm phong gửi giám định:

Chất cu ̣c bô ̣t màu trắng đựng trong 12 gói giấy bạc đều có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, được đựng trong 01 hộp nhựa màu đen, mặt ngoài có chữ và số là ma túy, có tổng khối lượng 0,541 gam, loa ̣i Heroine.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất lỏng đựng trong chai nhựa có nắp đâ ̣y màu trắng bên ngoài có chữ Number 1. Kết luận giám định số 1944/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của V- Bộ C7 kết luận:

Chất lỏng màu hồng gử i giám đi ̣nh là dụng di ̣ch Methadone. Thể tich

́ mẫu: 175ml, nồng độ Methadone: 0.85mg/ml. Khối lượng chất Methadone trong 175ml là: 0,148 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 14/3/2023 của Đỗ Đức T2, Phạm Văn L1, Nguyễn Văn D1, Đào Văn H7 dương tính với ma túy H9; Nguyễn Văn C dương tính với ma túy Herroine, MET; Phạm Thị B dương tính với ma túy MET. Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 16/3/2023 của Nguyễn Hồng N1, Thân Đức P, Trần Văn H8 đều dương tính với ma túy Herroine.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn C, Phạm Thị B khai nhận thành khẩn hành vi bán trái phép chất ma tuý như nêu trên. Ngoài ra, B khai còn bán ma tuý cho Thân Đức P, Nguyễn Hồng N1 mỗi người 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng nhưng B không không nhớ thờ i gian bán ma tuý cho những ngườ i này.

Ngày 21/3/2023, Cơ quan điều tra cho các bị can C, B thực nghiệm hành vi bán trái phép chất ma túy vào ngày 14/3/2023. Kết quả C, B xác định đúng vị trí để ma túy, bán ma túy; thực hiện thuần thục động tác cầm tiền, lấy ma túy ra bán cho các đối tượng như đã khai.

Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn D1, Đào Văn H7 nhận dạng Nguyễn Văn C và cho Đỗ Đức T2, Phạm Văn L1 nhận dạng Phạm Thị B. Kết quả D1, H7 nhận ra C và xác định C đã bán ma túy vào ngày 14/3/2023. T2, L1 nhận ra B và xác định B đã bán ma túy ngày 14/3/2023.

Kiểm tra điện thoại di động của Nguyễn Hồng N1 lắp sim số 0868.984.075 thấy tại mục danh bạ lưu tên BâySOS có số điện thoại là 0395.294.982 là số điện thoại của B.

Kiểm tra điện thoại di động của Trần Văn H8 lắp sim số 0866.413.904 thấy có nhiều cuộc gọi đi, gọi đến, gọi nhỡ đến số 0387.670.282 là số điện thoại của C.

Kiểm tra điện thoại di động của Thân Đức P lắp sim số 0353.483.156 và số 0868.125.197 thấy tại mục danh bạ lưu tên A0 số điện thoại là 0387.670.282 là số điện thoại của C; tại mục lịch sử cuộc gọi có nhiều cuộc gọi đi, gọi đến số 0387.670.282.

Về nguồn gốc số ma túy đã bán cho các đối tượng đến mua ngày 14/3/2023 và số ma túy thu giữ tại nhà C khi khám xét. C khai mua của Vũ Thị Mai s đó bán lại cho một số người khác; số còn lại chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an phát hiện thu giữ.

Về số ma tuý mà C mua của Nguyễn Đình C2. Theo C khai buổi tối ngày 13/3/2023, C bán cho Trần Văn H8 01 viên ma tuý ngựa và 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng. Số ma tuý còn la ̣i trong khi để ở trên mă ̣t bàn trong nhà do C làm đổ chai nướ c ra số ma tuý đa bi ̣̃ tan hết nên C đã vứt bỏ số ma túy này.

Về nguồn gốc chai M1 đã thu giữ. Theo C khai đi uống thuốc Methadone điều trị cai nghiện ta ̣i cơ sở cai nghiê ̣n ma túy tinh Bẳ

́c Giang. C uống mô ̣t phần, còn giữ la ̣i để sử du ̣ng dần. Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Văn D1, Đào Văn H7, Đỗ Đức T2, Phạm Văn L1, Nguyễn Hồng N1, Trần Văn H8, Thân Đức P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Thị M:

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn C về việc mua ma túy của Vũ Thị M. Ngày 11/4/2023, Cơ quan điều tra lấy lời khai Vũ Thị M (thời điểm này M đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang khởi tố và tạm giam về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy) thì M đầu thú và khai nhận bán ma tuý cho C ngày 27/02/2023. Kết quả điều tra xác định như sau:

Nguyễn Văn C quen biết Vũ Thị M từ trước và biết M bán ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/02/2023, C sử dụng số điện thoại 0387.670.282 gọi đến số điê ̣n thoa ̣i 0326.194.691 của M hỏi mua 17 triệu đồng ma tuý, loại Heroine. M đồng ý bảo C chuyển khoản thanh toán trước và nhắn tin cho C biết số tài khoản 1032828507 của M mở ta ̣i Ngân hàng V1. C đi đến cửa hàng Đ ở ki ốt A, đường Q, phường T, thành phố B gă ̣p chi ̣ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982 là chủ cử a hàng. C nói với chị T3 giúp chuyển khoản tiền cho người em thì chi ̣ T3 đồng ý. C đưa cho chị T3 17 triệu đồng tiền mặt và số tài khoản 1032828507 của Vũ Thị M mở ta ̣i Ngân hàng V1. Chi ̣ T3 chuyển khoản từ số tài khoản 0731000596932 của chi ̣ T3 mở ta ̣i Ngân hàng V1 đến số tài khoản của M làm 02 lần (lần thứ nhất 7 triệu đồng, lần thứ hai 10 triệu đồng). C trả cho chị T3 80.000 đồng phí dịch vụ chuyển tiền. Sau khi nhâ ̣n được tiền, M thuê xe tắc xi (không nhớ của hãng nào và không biết thông tin người lái taxi) đi từ thị trấn T đến khu vực cầu Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Theo M khai mua của mô ̣t ngườ i thanh niên không quen biết 01 túi ma tuý Heroine với giá 10 triệu đồng. Sau đó, M đi đến chỗ xe taxi đang chờ rồi thuê chở đến nhà C thi gă ̣p C và B có mặt tại

̀ nhà. Tại bàn uống nước nhà C thì M đưa cho C túi ma tuý này và ngồi chơi một lúc sau đó đi về. M khai đã rút số tiền 17 triệu đồng do C chuyển đến và sử dụng chi tiêu hết.

Cơ quan điều tra đã thu giữ sao kê số tài khoản 1032828507 của Vũ Thị M mở ta ̣i Ngân hàng V1. Kết quả xác định ngày 27/02/2023, chị Nguyễn Thị T3 có chuyển khoản đến số tài khoản của M 02 lần, lần thứ nhất 7.000.000 đồng, lần thứ hai 10.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đề nghi ̣ Tập đoàn V2 cung cấp li ̣ch sử chi tiết cuô ̣c go ̣i của số thuê bao 0387.670.282, 0326.194.691 và 0964.624.392. Kết quả số thuê bao 0964.624.392 đăng ký tên của Vũ Thị M. Số thuê bao 0387.670.282 đăng ký tên của Bùi Thị T4, đi ̣a chỉ tiểu khu H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là số điện thoại C đang sử dụng để liên lạc); số thuê bao 0326.194.691 đăng ký tên của Vũ Đình N2, sinh ngày 07/10/2000 ở thôn N, xã D, huyện H, tỉnh Bắc Giang (là số điện thoại M sử dụng để liên lạc); có nhiều cuộc gọi đi và đến giữa số thuê bao 0387.670.282 và 0326.194.691 vào ngày 27/02/2023.

Về nguồn gốc số ma tuý mà Vũ Thị M đã bán cho C. Theo M khai mua của mô ̣t ngườ i không quen biết tại khu vực gần cầu Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.

Đối vớ i chi ̣ Nguyễn Thị T3 được C nhờ chuyển tiền qua tài khoản cho M nhưng không biết mu ̣c đich để mua ma tuý; Vũ Đình N2 cho Vũ Thị M mượn

́ căn cướ c công dân để đăng ký sim số 0326.194.691 nhưng không biết M sử du ̣ng để liên la ̣c mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý.

3. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn G, Nguyễn Đình C2, Nguyễn Văn K:

Nguyễn Văn C khai được Nguyễn Văn G giới thiệu và đưa đến gă ̣p Nguyễn Đình C2, sinh năm 1985 ở căn hộ A, chung cư B, thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy. Ngày 13/3/2023, C có mua của C2 30 triệu đồng ma túy heroin và ma túy tổng hợp.

Ngày 10/6/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình C2 tại căn hộ A, chung cư B, thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã thu giữ:

- Nguyễn Đình C2 tự lấy từ trong túi quần bên phải đang mă ̣c giao nô ̣p 01 hô ̣p kim loa ̣i màu xanh có nắp đâ ̣y bên trong đựng: 01 gói giấy có hai mă ̣t màu trắng ba ̣c đựng mảnh viên nén màu nâu; 01 túi nilon màu trắng mô ̣t đầu có ranh̃ khoá nhựa và viền màu đỏ, bên ngoài được quấn bằng dây chun ni ̣t màu vàng, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 03 túi nilon bên ngoài được quấn bằng dây chun ni ̣t màu vàng trong đó 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 03 viên nén màu hồng đỏ; 01 túi nilon màu trắng mô ̣t đầu có ranh khoã

́ nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 03 viên nén màu hồng đỏ; 01 túi nilon màu trắng mô ̣t đầu có ranh khoã

́ nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (được cho vào phong bi niêm phong ký hiê ̣u KX01).

̀

- Nguyễn Đình C2 tự lấy từ trong túi quần bên trái đang mă ̣c giao nô ̣p: 01 gói giấy màu trắng được quấn ngoài bằng dây chun ni ̣t màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng mô ̣t đầu có ranh khoã

́ nhựa và viền màu xanh; 01 túi nilon màu trắng mô ̣t đầu có ranh khoã

́ nhựa và viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng (được cho vào phong bi niêm phong ký hiê ̣u

̀ KX02)

- Thu tại trên mặt kệ trong phòng ngủ của C2: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh, bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng một đầu để hở bên trong đựng mảnh viên nén màu xanh thu giữ tại trên mặt tờ giấy màu trắng (được cho vào phong bi niêm phong ký hiê ̣u KX03).

̀

- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng được phát hiện thu giữ tại nền nhà dưới gầm kệ; 01 thẻ cứng phát hiện tại nền nhà cạnh kệ; 01 ống hút được quấn bằng tờ giấy có in chữ “DOLLARS” thu giữ tại ngăn kéo kệ đều ở trong phòng ngủ Nguyễn Đình C2 (được cho vào thùng bìa cát tông niêm phong).

- 01 hộp giấy màu tím có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh hoặc viền màu đỏ thu giữ trên mặt kệ tủ trong phòng ngủ của Nguyễn Đình C2.

- 01 hộp giấy màu hồng có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh, nhiều dây chun nịt màu vàng, 01 cuộn giấy bạc, 01 bình thủy tinh đầu có gắn ống hút thu giữ trong ngăn kéo kệ tủ trong phòng ngủ của Nguyễn Đình C2.

- 01 điện thoại di động Nokia, số sêri 357328080354891 lắp sim số 0969.623.383.

- 01 điện thoại di động S2 S9+, số Inei: 352402092353491 lắp sim số 0392.225.950.

- 01 ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình C2 và số tiền 5.000.000 đồng.

- 01 loa ENKOR màu đen; 02 đèn nháy màu trắng

- 01 chiếc kéo; 01 bình khò.

Tại thời điểm Cơ quan điều tra khám xét thì Nguyễn Văn K, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Chu Thị H4, sinh năm 1984, trú tại xóm N, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang có mặt tại nhà C2.

Nguyễn Văn K giao nộp 01 điện thoại di động N3 có số Imei 1: 254456, số Imei 2: 754455 lắp sim số 0339.553.251; số tiền 13.500.000 đồng. Chu Thị H4 giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro max, lắp sim số 0985.287.297; 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Chu Thị H4; số tiền 1.700.000 đồng; xe mô tô SH biển số 99F1 – 407.54.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Đình C2 khi khám xét.

Bản kết luận giám định số 1100/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX01” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 hộp kim loại màu xanh có nắp đậy:

- Mảnh viên nén màu được đựng trong 01 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,128 gam.

- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 6,044 gam.

- 03 túi nilon được quấn ngoài bằng dây chun nịt màu vàng trong đó:

+ 03 viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 túi màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,288 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng và 03 viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 túi màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,541 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,757 gam.

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX02” đã được niêm phong gửi giám định:

Trong 01 gói giấy màu trắng dạng giấy ăn, bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng:

- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,701 gam

- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,737 gam

Trong 01 phong bì ký hiệu “KX03” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,918 gam

- Chất bột màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

- Mảnh viên nén màu xanh được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, hai đầu được hàn kín là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,195 gam.

Trong 01 thùng bìa cát tông đã được niêm phong gửi giám định:

Trong 01 túi nilon màu đen được buộc kín:

Chất bột màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng; 01 thẻ cứng có chữ “Vietnammobile”; 01 ống hút được quấn bằng tờ giấy có in chữ “DOLLARS 100” cố định bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá đều là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình C2, Nguyễn Văn G Nguyễn Văn K đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị can như sau.

3.1. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn G và Nguyễn Đình C2 cho Nguyễn Văn C:

Nguyễn Văn G quen biết Nguyễn Đình C2 và Nguyễn Văn C từ trước. G là bạn của Vũ Thị M. G sử dụng điện thoại di động S3 10 lắp sim số 0347.221.102, đến đầu tháng 5/2023 thì G mua máy điện thoại Iphone 13 Pro và chuyển sim số 0347.221.102 sang chiếc điện thoại này để sử dụng.

Khoảng 10 giờ ngày 13/3/2023 khi Nguyễn Văn G đang ở căn hộ A, chung cư B, thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Đình C2 thì G nhận được điện thoại của Nguyễn Văn C gọi đến nhờ tìm địa điểm mua ma túy. G đa đă ̣̃ t vấn đề vớ i C2 về viê ̣c C hỏi mua ma tuý nên C2 đồng ý bán. Do vậy, G bảo C đi đến huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy.

Sau đó, G go ̣i điê ̣n thoa ̣i cho anh Nguyễn Văn H10, sinh năm 1979, trú ta ̣i thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang là lái xe taxi bảo đi đến thành phố B đón C sau đó chở đến huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Theo chỉ dẫn của G, anh H10 đi đến đón C rồi đưa đến chung cư B, thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Đến nơi, C điện thoại thông báo cho G thì G đi xuống đón C đưa lên căn hô ̣ của C2 còn anh H10 ở lại chờ . C đặt vấn đề với C2 để mua ma tuý tổng hợp và H11. C đưa cho C2 30 triệu đồng tiền mặt. C2 khai đi đến khu vực xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gă ̣p mô ̣t ngườ i tên là B1 đặt vấn đề mua 30 triệu đồng loại ma tuý tổng hợp đá, ngựa và H11. B1 đi mô ̣t lúc sau đó quay la ̣i cho C2 01 túi ni long bên trong đựng 01 túi ma tuý Heroine, 01 túi ma tuý đá và 01 túi ma túy ngựa. Chữ trả tiền cho B1 rồi cầm túi ma tuý trở về nhà đưa cho C. Sau đó, C và G đi xuống bảo anh H10 chở về nhà C. Khi về đến nhà, C đưa cho G 1.900.000 đồng nhờ trả cho M. Trên đườ ng về nhà, G chuyển khoản trả cho C2 2.000.000 đồng là số tiền mà G đa vay cũ

̉a C2 từ trướ c.

Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn C nhận dạng Nguyễn Văn G và Nguyễn Đình C2 qua ảnh. Kết quả C nhận ra G và C2 đồng thời xác định G đã giới thiệu cho C đến mua ma túy của C2 và C2 đã bán ma túy cho C vào ngày 13/3/2023.

Kiểm tra điện thoại Iphone 13 Pro của Nguyễn Văn G lắp sim số 0347.221.102 có số điện thoại của C 0387.670.282 lưu tên A C3; có số điện thoại của C2 là 0969.623.383 được lưu tên A C4.

Tập đoàn V2 cung cấp li ̣ch sử chi tiết cuô ̣c go ̣i của số thuê bao 0347.221.102. Kết quả số thuê bao này đăng ký tên Nguyễn Văn G; ngày 13/3/2023 có các cuộc gọi đi và đến của số thuê bao 0387.670.282 của C và số thuê bao 0969.623.383 của C4.

Tiến hành sao kê số tài khoản 0969623383 của Nguyễn Đình C2 mở ta ̣i Ngân hàng TMCP Q. Kết quả xác định ngày 13/3/2023, G có chuyển khoản đến số tài khoản của Chữ số tiền 2.000.000 đồng.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Chữ ngày 10/6/2023 gồm tổng số 0,323 gam MDMA; 7,63 gam Methamphetamine và 2,356 gam Ketamine. Theo C2 khai mua của đối tượng tên là B1 vào khoảng cuối tháng 5/2023 mục đích vừa để sử dụng vừa bán lại cho người khác.

Đối với người đàn ông tên là B1 mà C2 khai đã bán ma túy cho C2 tại khu vực xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nhưng C2 không biết thông tin và địa chỉ cụ thể của B1 nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.

Đối với Nguyễn Văn H10 là lái xe taxi được Nguyễn Văn G thuê chở C từ thành phố B đến Chung cư B, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh sau đó đưa về nhà. Anh H10 không biết viê ̣c C và G mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 13 Pro lắp sim số 0347.221.102 của G đã cầm cố cho Nguyễn Quang D2, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang để vay tiền, một tháng sau anh D2 đã bán cho một người không quen biết. Chiếc điện thoại này G mua tháng 5/2023, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ.

3.2 Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình C2 và Nguyễn Văn K:

Nguyễn Văn K quen biết Nguyễn Đình C2 từ trước. Chu Thị H4, sinh năm 1984, trú tại xóm N, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang là bạn của K. Khoảng 10 giờ ngày 10/6/2023, K đi đến nhà H4 chơi sau đó rủ đi đến huyện Y, tỉnh Bắc Ninh chơi thì H4 đồng ý. Khái điều khiển xe mô tô BKS 99F1-407.54 (là xe của H4) đi đến huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, K điện thoại cho C2 thì biết C2 đang ở căn hộ chung cư nên nói với C2 sẽ đến chơi.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, K rủ và đưa H4 đến căn hộ A, chung cư B, thuộc thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Đình C2 chơi. Khi gặp nhau, K hỏi C2 “có đồ ngon bỏ ra chơi”. Chữ hiểu ý K bảo C2 bỏ ma tuý tổng hợp ra sử du ̣ng. C2 đồng ý và cùng K, H4 đi vào trong phòng ngủ. Lúc này trong phòng C2 đa bâ ̣̃ t nha ̣c từ trướ c. Chữ lấy 02 túi nilon đựng ma tuý ketamine và 01 túi nilon đựng 02 viên ma tuý tổng hợp ke ̣o để ra giườ ng. Khái lấy 01 viên ma tuý tổng hợp ke ̣o đưa lên miê ̣ng cắn mô ̣t mảnh để sử du ̣ng, mảnh còn la ̣i thì K đưa cho H4 sử du ̣ng. Sau đó, K lấy lon nướ c C5-Cola ở giườ ng để uống mảnh ma tuý rồi đưa lon nướ c cho H4 uống. Chữ lấy chiếc kéo cắt viên ma tuý tổng hợp còn la ̣i làm hai mảnh, C2 sử du ̣ng mô ̣t mảnh bằng hinh thứ c uống, mảnh

̀ còn la ̣i thì C2 để la ̣i vào túi nilon. Tiếp theo, C2 lấy đia sữ ́ màu trắng ở trên mă ̣t kê ̣ trong phòng ngủ để xuống giườ ng rồi lấy bâ ̣t lử a hơ nóng, đổ 01 túi nilon đựng ma tuý ketamin ra đia; lẫ

́y chiếc thẻ nhựa ở trong vi rồi xào ma tuý chia ra

́ làm nhiều đườ ng sau đó đă ̣t đia ma tuỹ

́ ở giườ ng. Chữ lấy mô ̣t mảnh giấy hinh

̀ tờ tiền Dollas quấn thành ống hút cố đi ̣nh bằng 03 vỏ đầu lo ̣c thuốc lá sau đó để lên trên đia ma tuỹ

́. Khái lấy đia ma tuỹ

́ sử du ̣ng sau đó đưa cho H4 sử du ̣ng bằng hình thức hít vào cơ thể. H4 sử du ̣ng ma tuý xong thi để đia ma tuỹ

́ xuống

̀ giườ ng rồi C2 lấy đia ma tuỹ

́ để sử du ̣ng. Sau đó, C2 lấy 02 vỏ túi nilon rồi chia túi ma tuý tổng hợp ketamine còn la ̣i ra làm 03 túi. Chữ cho 02 túi ma tuý vào 01 tờ giấy màu trắng gói la ̣i và quấn ngoài bằng dây chun ni ̣t màu vàng; túi ma tuý ketamine và túi nilon đựng mảnh ma tuý ke ̣o còn la ̣i thì C2 để lên mô ̣t mảnh giấy màu trắng rồi đă ̣t lên trên mă ̣t kê ̣ trong phòng ngủ. Sau khi sử dụng ma túy xong, C2, K, Hà nghỉ tại nhà C2 sau đó bi ̣ Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đến khám xét phát hiê ̣n và thu giữ vật chứng.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 10/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đối với Nguyễn Đình C2, Nguyễn Văn K, Chu Thị H4 đều dương tính với ma túy KET, MET, MDMA.

Kiểm tra điện thoại di động N3 của Nguyễn Đình C2 lắp sim số 0969.623.383; kiểm tra điện thoại Nokia của Nguyễn Văn K lắp sim số 0339.553.251 thấy tại mục lịch sử cuộc gọi của K có gọi đến số điện thoại của C2 vào hồi 12 giờ 08 phút ngày 10/6/2023, mục danh bạ Khái lưu tên “B.n. Chữ. đa”.

Ngày 16/6/2023, Cơ quan điều tra cho C2, K thực nghiệm hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hô ̣ của Chữ. Kết quả, C2 thực hiện động tác lấy ma túy để trên giường, lấy kéo cắt ma túy kẹo làm 02 phần và sử dụng một phần; lấy đĩa, thẻ cứng, lấy bật lửa hơ nóng đĩa, đổ ma túy ketamin ra đĩa xào, quấn ống hút và sử dụng ma túy. Khái thực hiện động tác lấy viên ma túy kẹo cắn một nửa tự sử dụng và đưa 01 nửa viên ma túy còn lại cho H4 sử dụng, động tác đưa lon nước cho H4 để uống sử dụng ma túy; động tác K tự sử dụng ma túy ketamin rồi đưa cho H4 sử dụng như đã khai.

Đối với Chu Thị H4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính.

Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại di động Iphone 13 Pro max, lắp sim số 0985.287.297; 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Chu Thị H4, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 99F1 – 407.54 và số tiền 1.700.000 đồng là tài sản của Chu Thị H4 không liên quan đến hành vi phạm tội nên VKSND thành phố Bắc Giang đã trả lại những tài sản trên cho chị H4.

Toàn bộ số vật chứng, đồ vật, tài sản đã tạm giữ được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo:

- Bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự

- Bị cáo Vũ Thị M, Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Đình C2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Văn K bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nên. Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, vi phạm pháp luật. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về hình phạt:

1.1. Áp dụng điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

- Bị cáo Phạm Thị B từ 8 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng

1.2. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

1.3. Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình C2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 năm đến 10 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/6/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2023.

1.5. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Thị M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 11 năm 8 tháng đến 12 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 10 (mườ i) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) thùng bìa cát tông niêm phong dán kín; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy màu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” đựng chất lỏng màu hồng được niêm phong dán kín; 55 (năm năm) ống nước cất, 59 (năm chin) xi lanh nhựa;

́ Nhiều vỏ túi nilon có ranh khoã

́ nhựa và viền màu xanh, nhiều ống hút nhựa có nhiều màu khác nhau; 01 (mô ̣t) hô ̣p nhựa màu trắng có nắp đâ ̣y, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc và 01 chiếc kéo; 01 (một) hộp giấy màu tím có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh hoặc viền màu đỏ; 01 (một) hộp giấy màu hồng có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh, nhiều dây chun nịt màu vàng, 01 cuộn giấy bạc, 01 (một) bình thủy tinh đầu có gắn ống hút; 01 (một) bình khò.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 800.000 đồng là tiền C và B bán ma túy ngày 14/3/2023; 01 (mô ̣t) chiếc điê ̣n thoa ̣i nhan hiê ̣̃

u VSMART, số Imei 1: 356744102656546, số Imei 2: 356744102656553, lắp sim số: 0876.285.121 và số 0387.670.282 ta ̣m giữ của Nguyễn Văn C; 01 (mô ̣t) chiếc điê ̣n thoa ̣i Sam Sung Galaxy Note 10 ta ̣m giữ của Nguyễn Văn G; 01 (một) loa ENKOR màu đen, 02 (hai) đèn nháy màu trắng.

- Truy thu bị cáo C số tiền 300.000 đồng là tiền bán ma túy cho Thân Đức P, Trần Văn H8 vào ngày 13/3/2023; truy thu của bị cáo B số tiền 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho Thân Đức P, Nguyễn Hồng N1 trước ngày 14/3/2023; truy thu của bị cáo M số tiền 7.000.000 đồng là tiền bán ma túy cho bị cáo C vào ngày 27/02/2023.

- Trả lại bị cáo B 01 (mô ̣t) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Sam Sung Galaxy A03s, số Imei 1: 357516641101906, Imei 2: 358193141101908 lắp sim số: 0395.294.982 và số tiền 2.350.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại bị cáo C 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Atina biển kiểm soát 98M4 – 4014, số tiền 300.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại bị cáo C2 01 (một) điện thoại di động N3, số sêri: 357328080354891 lắp sim số điện thoại: 0969.623.383; 01 (một) điện thoại di động S2 S9 +, số Imei: 352402092353491 lắp sim số: 0392.225.950; 01 (một) ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình C2 và số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền

̀ Chữ” nhưng tạm giữ điện thoại, tiền để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo K 01 (một) chiếc điện thoại di động N3 có số Imei 1: 254456, số Imei 2: 754455 lắp sim số: 0339.553.251 ta ̣m giữ của Nguyễn Văn K; số tiền 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền Khái” nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án.

̀

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Công an thành phố B lập ngày 15/3/2023, vật chứng thu giữ và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận giám định số: 485/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của phòng K1 Công an tỉnh B; Kết luận giám định số: 1944/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của V Bộ C7 đối với vật chứng thu giữ là ma túy được giám định. Trên cơ sở lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Ngày 27/02/2023, Vũ Thị M mua của người không quen biết 01 túi ma túy heroin với giá 10 triệu đồng sau đó mang đến nhà Nguyễn Văn C ở thôn A, xã S, thành phố B bán cho C với giá 17 triệu đồng. M hưởng lợi 7 triệu đồng. Vợ chồng C đã bán ma túy mua của M cho các đối tượng khác. Cơ quan điều tra đã thu giữ của C số ma túy còn lại chưa kịp bán, kết quả giám định có tổng khối lượng là 0,583 gam, loại heroin.

Ngày 13/3/2023, Nguyễn Văn G đã trực tiếp giới thiệu, thuê xe taxi đến đón và đưa Nguyễn Văn C từ thành phố B đến nhà Nguyễn Đình C2 ở căn hộ A, chung cư B, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy. G đưa C đến gặp C2 để mua ma túy. Nguyễn Văn C đưa cho C2 30 triệu đồng. Chữ mua của một người không quen biết 01 túi ma túy heroin và ma túy tổng hợp đem về bán cho Nguyễn Văn C. Sau đó, C đã bán 01 viên ma tuý ngựa và 01 gói ma túy heroin; số ma tuý còn la ̣i do C làm đổ chai nướ c ra số ma tuý nên đa bi ̣̃ tan hết. Nguyễn Văn G có vai trò đồng phạm giúp sức Chữ bán ma túy cho C.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của Nguyễn Đình C2 thu giữ tổng số 0,323 gam MDMA; 7,63 gam Methamphetamine và 2,356 gam Ketamine. Tổng khối lượng các chất ma túy nêu trên là 10,309 gam. C2 khai mua số ma túy này vào khoảng cuối tháng 5/2023 sau đó đem về nhà cất giấu mục đích vừa để sử dụng và vừa bán lại cho người khác.

Ngày 10/6/2023, Nguyễn Đình C2 và Nguyễn Văn K đã cùng nhau tổ chức cho Chu Thị H4 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamin, MDMA tại phòng ngủ của C2 ở căn hộ A, chung cư B, thôn Ấ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh nên phải chịu trách nhiệm đồng phạm về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Nguyễn Văn C mua ma túy của Vũ Thị M, Nguyễn Đình C2 hết tổng số tiền 47 triệu đồng sau đó chia nhỏ ma túy rồi cùng vợ là Phạm Thị B bán lại cho người khác để thu lợi. Kết quả điều tra xác định ngày 13/3/2023 và ngày 14/3/2023, C đã 5 lần bán ma túy cho các đối tượng Thân Đức P, Trần Văn H8, Nguyễn Văn D1, Đào Văn H7 và một người không quen biết.

Ngày 14/3/2023, Phạm Thị B đã 3 lần bán ma túy cho các đối tượng Nguyễn Hồng N1, Đỗ Đức T2, Phạm Văn L1. Trước đó, B bán ma tuý cho Thân Đức P, Nguyễn Hồng N1, mỗi người 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng nhưng B không không nhớ thờ i gian bán vào ngày nào.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của vợ chồng Nguyễn Văn C thu giữ tổng số 0,583 gam heroin. C khai cất giấu số ma túy trên mục đích vừa để sử dụng và vừa bán lại cho người khác.

Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của Nhà nước về chất Ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn nghiện ma túy.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:

- Đối với Nguyễn Văn C, Phạm Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Đối với Vũ Thị M, Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Đối với Nguyễn Đình C2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

- Đối với Nguyễn Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo C có vai trò chính trong vụ án, các bị cáo khác có vai trò đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn nên cần áp dụng Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo C, bị cáo B bị đưa ra xét xử nhiều lần về nhiều tội, có nhân thân không tốt, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo.

Bị cáo M bị đưa ra xét xử nhiều lần về các tội ma túy, có nhân thân không tốt.

Bị cáo G, bị cáo K cũng đã từng bị đưa ra xét xử, tuy các bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và được xóa án tích nhưng vẫn thể hiện các bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Bị cáo C2 2 lần bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo C, B, G, K, C2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo M có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo M, C2, G, K ra đầu thú, bị cáo C2 có bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thờ cúng 2 chú là liệt sĩ, bị cáo K có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Các bị cáo C, B, M đã từng bị đưa ra xét xử nhiều lần; các bị cáo G, K cũng đã từng bị đưa ra xét xử nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo C2 phạm hai tội trong cùng một lần xét xử. Ngoài ra hành vi của các bị cáo còn là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác trong đời sống gia đình và xã hội nên cần buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi phạm tội khác. Mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy Kiểm sát viên đề xuất tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên áp dụng cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo C, B, M, C2 phạm tội vì mục đích vụ lợi để sung quỹ Nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

- 10 (mườ i) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, gồm: Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT1” có: 01 (một) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT2” có: 02 (hai) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT3” có: 02 (hai) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT4” có: 01 (một) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX” có: 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 01 (một) con dao lam, 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím, một đầu cắt vát. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX01”: Chất cu ̣c bô ̣t màu trắng là ma túy loa ̣i Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất còn lại sau giám định 0,032 gam; vỏ bao gói mẫu sau giám định. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX02”: Chất cu ̣c bô ̣t màu trắng là ma túy loa ̣i Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất còn lại sau giám định 0,491 gam. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX01”: Trong 01 (một) hộp kim loại màu xanh có nắp đậy: Mẫu mảnh viên nén màu được đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, là ma túy, khối lượng 0,094 gam, loại MDMA, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng là ma túy, khối lượng 5,609 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định. 03 (ba) túi nilon được quấn ngoài bằng dây chun nịt màu vàng, trong đó: Mẫu viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, khối lượng 0,187 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, khối lượng 0,383 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, là ma túy, khối lượng 0,640 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX02”: Trong 01 (một) gói giấy màu trắng dạng giấy ăn, bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng: Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, khối lượng 0,628 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, khối lượng 0,629 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX03”: Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, khối lượng 0,809 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu; Mẫu mảnh viên nén màu xanh được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, hai đầu được hàn kín là ma túy, khối lượng 0,161 gam, loại MDMA, được hoàn lại sau giám định; 01 chiếc kéo; 01 (mô ̣t) thùng bìa cát tông niêm phong dán kín; 01 (mô ̣t) chai nhựa có nắp đâ ̣y màu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” đựng chất lỏng màu hồng được niêm phong dán kin; 55 (năm năm) ống nướ c cất, 59 (năm

́

chin) xi lanh nhựa; thu giữ nhiều vỏ túi nilon có ranh khoã

́ nhựa và viền màu

́ xanh, nhiều ống hút nhựa có nhiều màu khác nhau; 01 (một) hộp giấy màu tím có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh hoặc viền màu đỏ; 01 (một) hộp giấy màu hồng có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh , nhiều dây chun nịt màu vàng, 01 cuộn giấy bạc, 01 (một) bình thủy tinh đầu có gắn ống hút; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc và 01 chiếc kéo; 01 (một) bình khò cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) loa ENKOR màu đen, 02 (hai) đèn nháy màu trắng các bị cáo dùng vào mục đích phạm tội tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Số tiền 3.150.000 đồng được niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền

̀ Bẩy 3”; trong đó có 800.000 đồng là tiền bán ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước, số tiền 2.350.000 đồng là tiền riêng của bị cáo B trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 (mô ̣t) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Sam Sung Galaxy A03s, số Imei 1: 357516641101906, Imei 2: 358193141101908 lắp sim số điê ̣n thoa ̣i: 0395.294.982 của Phạm Thị B sử dụng liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Atina BKS: 98M4 – 4014 của bị cáo C không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Số tiền 300.000 đồng được niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền C

̀ 1” không liên quan đến việc bán ma túy trả lại C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 (mô ̣t) chiếc điê ̣n thoa ̣i nhan hiê ̣̃

u VSMART, số Imei 1: 356744102656546, số Imei 2: 356744102656553, lắp sim số điê ̣n thoa ̣i 0876.285.121 và số 0387.670.282 của Nguyễn Văn C sử dụng liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 (mô ̣t) chiếc điê ̣n thoa ̣i Sam Sung Galaxy Note 10 của Nguyễn Văn G sử dụng liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động N3, số sêri: 357328080354891 lắp sim số điện thoại: 0969.623.383; 01 (một) điện thoại di động S2 S9 +, số Inei: 352402092353491 lắp sim số điện thoại: 0392.225.950; 01 (một) ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình C2; số tiền 5.000.000 đồng niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền C2” trả lại bị cáo C2

̀

nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động N3 có số Imei 1: 254456, số Imei 2: 754455 lắp sim số điện thoại: 0339.553.251 của Nguyễn Văn K; số tiền 13.500.000 đồng niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền K” trả lại bị cáo K.

̀

- Truy thu buộc bị cáo C nộp lại 300.000 đồng tiền bán ma túy.

- Truy thu buộc bị cáo B nộp lại 200.000 đồng tiền bán ma túy.

- Truy thu buộc bị cáo M nộp lại 7.000.000 đồng tiền bán ma túy.

Những vấn đề khác có liên quan:

- Đối với Chu Thị H4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính.

- Chiếc điện thoại di động Iphone 13 Pro max, lắp sim số 0985.287.297; 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Chu Thị H4, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 99F1 – 407.54 và số tiền 1.700.000 đồng là tài sản của Chu Thị H4 không liên quan đến hành vi phạm tội nên VKSND thành phố Bắc Giang đã trả lại những tài sản trên cho chị H4 là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngoài ra, cần tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Thị B, Nguyễn Đình C2, Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn K 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

- Căn cứ vào điểm b, q khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Thị B;

- Căn cứ vào điểm p khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 255 ; Điều 55; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình C2;

- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 56 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị M;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn G;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về mức hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (C6) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị B 08 (T5) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/3/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C2 07 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; xử phạt 02 (H12) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (C6) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/6/2023.

- Xử phạt bị cáo Vũ Thị M 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 8 (T5) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 (Bẩy) năm 6 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 12 (Mười hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/3/2023 của Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa .

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/6/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 10 (mườ i) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, gồm: Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT1” có: 01 (một) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT2” có: 02 (hai) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT3” có: 02 (hai) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KT4” có: 01 (một) mảnh giấy bạc có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX” có: 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong đựng 01 (một) con dao lam, 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím, một đầu cắt vát. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX01”: Chất cu ̣c bô ̣t màu trắng là ma túy loa ̣i Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất còn lại sau giám định 0,032 gam; vỏ bao gói mẫu sau giám định. Trong 01 phong bì có ký hiệu “KX02”: Chất cu ̣c bô ̣t màu trắng là ma túy loa ̣i Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất còn lại sau giám định 0,491 gam. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX01”: Trong 01 (một) hộp kim loại màu xanh có nắp đậy: Mẫu mảnh viên nén màu được đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc, là ma túy, khối lượng 0,094 gam, loại MDMA, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng là ma túy, khối lượng 5,609 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định. 03 (ba) túi nilon được quấn ngoài bằng dây chun nịt màu vàng, trong đó: Mẫu viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa đều là ma túy, khối lượng 0,187 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) túi màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, khối lượng 0,383 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, là ma túy, khối lượng 0,640 gam, loại Methamphetamine, được hoàn lại sau giám định. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX02”: Trong 01 (một) gói giấy màu trắng dạng giấy ăn, bên ngoài được quấn bằng dây chun nịt màu vàng: Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, khối lượng 0,628 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định; Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, khối lượng 0,629 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX03”: Mẫu chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, khối lượng 0,809 gam, loại Ketamine, được hoàn lại sau giám định; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu; Mẫu mảnh viên nén màu xanh được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, hai đầu được hàn kín là ma túy, khối lượng 0,161 gam, loại MDMA, được hoàn lại sau giám định; 01 (mô ̣t) thùng bìa cát tông niêm phong dán kín; 01 (mô ̣t) chai nhựa có nắp đâ ̣y màu trắng bên ngoài có chữ “Number 1” đựng chất lỏng màu hồng được niêm phong dán kin; 55 (năm

́ năm) ống nướ c cất, 59 (năm chin) xi lanh nhựa; Thu giữ nhiều vỏ túi nilon có

́ ranh khoã

́ nhựa và viền màu xanh, nhiều ống hút nhựa có nhiều màu khác nhau; 01 (một) hộp giấy màu tím có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh hoặc viền màu đỏ; 01 (một) hộp giấy màu hồng có nắp gập bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh, nhiều dây chun nịt màu vàng, 01 cuộn giấy bạc, 01 (một) bình thủy tinh đầu có gắn ống hút; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc và 01 chiếc kéo; 01 (một) bình khò;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng của bị cáo B trong số tiền 3.150.000 đồng thu giữ; 01 (một) loa ENKOR màu đen, 02 (hai) đèn nháy màu trắng thu của C2; 01 (mô ̣t) chiếc điê ̣n thoa ̣i nhan hiê ̣̃

u VSMART, số Imei 1: 356744102656546, số Imei 2: 356744102656553, lắp sim số điê ̣n thoa ̣i 0876.285.121 và số 0387.670.282 của Nguyễn Văn C; 01 (mô ̣t)chiếc điê ̣n thoa ̣i Sam Sung Galaxy Note 10 của Nguyễn Văn G;

- Trả lại bị cáo B 01 (mô ̣t) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Sam Sung Galaxy A03s, số Imei 1: 357516641101906, Imei 2: 358193141101908 lắp sim số điê ̣n thoa ̣i: 0395.294.982; số tiền 2.350.000 đồng được niêm phong trong phong bi ký

̀ hiê ̣u “Tiền Bẩy 3” nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại bị cáo C 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Atina BKS: 98M4 – 4014; số tiền 300.000 đồng được niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền Cườ ng 1” nhưng

̀ tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại bị cáo C2: 01 (một) điện thoại di động N3, số sêri: 357328080354891 lắp sim số điện thoại: 0969.623.383; 01 (một) điện thoại di động S2 S9 +, số Inei: 352402092353491 lắp sim số điện thoại: 0392.225.950; 01 (một) ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình C2; Số tiền 5.000.000 đồng niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền

̀ Chữ” nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại bị cáo K: 01 (một) chiếc điện thoại di động N3 có số Imei 1: 254456, số Imei 2: 754455 lắp sim số điện thoại: 0339.553.251; số tiền 13.500.000 đồng niêm phong trong phong bi ký hiê ̣u “Tiền Khái” nhưng tạm giữ

̀

để đảm bảo thi hành án;

- Truy thu buộc bị cáo C nộp lại 300.000 đồng tiền bán ma túy;

- Truy thu buộc bị cáo B nộp lại 200.000 đồng tiền bán ma túy;

- Truy thu buộc bị cáo M nộp lại 7.000.000 đồng tiền bán ma túy.

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Bắc Giang

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Bắc Giang;

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- Chi cục THADS TP Bắc Giang;

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;

- Cơ quan THAHS Công an thành phố

Tạ Thị Thu Thuỷ Bắc Giang;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;

- Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;

- Cổng thông tin điện tử Tòa án;

- Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- UBND xã Song Mai, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;

- UBND xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang;

- UBND xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;

- UBND thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang;

- UBND xã Mai Trung, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang

- Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC GIANG

Số: 01/2024/TB-TA

Bắc Giang, ngày 21 tháng 01 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 210/2023/HS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang có sai sót, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung tại dòng thứ 12 từ dưới lên trang thứ 01 của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên đã ghi:

“…văn hóa 06/10: con ông: Nguyễn Văn T... ”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“…văn hóa 06/10: con ông: Nguyễn Đăng T6... ”

Cỡ chữ