- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thanh P tranh chấp nuôi con khi ly hôn với Hồ Phi T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thanh P đối với anh Hồ Phi T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 210/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 4 - 2023 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Anh
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Đào Thanh P, sinh năm 1996.
Địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, Thành phố C, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện tại: khu dân cư V DA7, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: anh Hồ Phi T, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: tổ D, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
(chị P xin vắng mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Đào Thanh P trình bày:
Chị và anh Hồ Phi T tự tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý, không có tổ chức lễ cưới, chung sống như vợ chồng từ năm 2012, đến năm 2018 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94 ngày 09 tháng 7 năm 2018.
Sau khi cưới vợ chồng sống tạm ở nhiều nơi, không có chỗ ở ổn định do anh T mâu thuẫn với cha mẹ ruột, đến năm 2017 vợ chồng mới trở về sống chung với gia đình chồng ở thành phố C, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh T ham chơi cờ bạc, không lao động để lo cho vợ con, thường xuyên say xỉn và có hành vi bạo lực với chị, vợ chồng mâu thuẫn kéo dài. Đến năm 2019, chị gửi 02 con chung cho gia đình anh T nuôi dưỡng để đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương kiếm tiền nuôi 02 con chung, từ đó vợ chồng ly thân cho đến nay, thời gian ly thân anh T không liên lạc để hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Phi T.
Về con chung: có 02 con chung tên Hồ Huy L, sinh ngày 23/10/2012 và Hồ Phương T1, sinh ngày 29/8/2015, hiện 02 con chung đang sống với anh T. Trước đây khi khởi kiện chị yêu cầu được nuôi con tên Hồ Phương T1, đồng ý giao con tên Hồ Huy L cho anh T nuôi dưỡng, hai bên không cấp dưỡng. Nay xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, đồng ý tiếp tục giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Hồ Phi T vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh T được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị P có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh T và chị P theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị tự tìm hiểu quen biết nhau được cha mẹ chấp thuận không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T ham chơi tham gia tệ tạn xã hội, uống rượu về hay bạo hành với chị P, vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến năm 2019 chị P đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương kiếm tiền lo cho con từ đó vợ chồng ly thân, anh T không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị P yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của anh T), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- Về con chung: có 02 con chung tên Hồ Huy L, sinh ngày 23/10/2012 và Hồ Phương T1, sinh ngày 29/8/2015, hiện 02 con chung đang sống với anh T. Trước đây khi khởi kiện yêu cầu được nuôi con tên Hồ Phương T1, đồng ý giao con tên Hồ Huy L cho anh T nuôi dưỡng, hai bên không cấp dưỡng. Nay xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, đồng ý tiếp tục giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, chị P đồng ý để anh T tiếp tục nuôi 02 con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Đào Thanh P yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn anh Hồ Phi T đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh T cư trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị P khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: chị P xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập do hai người tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý, không tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T ham chơi tham gia tệ tạn xã hội, uống rượu về hay bạo hành với chị P, vợ chồng thường xuyên cãi nhau đến năm 2019 chị P đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương kiếm tiền lo cho con từ đó vợ chồng ly thân, anh T không liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị P yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của anh T), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung tên Hồ Huy L, sinh ngày 23/10/2012 và Hồ Phương T1, sinh ngày 29/8/2015, hiện 02 con chung đang sống với anh T. Trước đây khi khởi kiện chị P yêu cầu được nuôi con tên Hồ Phương T1, đồng ý giao con tên Hồ Huy L cho anh T nuôi dưỡng, hai bên không cấp dưỡng. Nay xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, đồng ý tiếp tục giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện 02 con chung đang do anh T chăm sóc ổn định phù hợp với nguyện vọng của các cháu, nên HĐXX giao cháu L và cháu T1 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, chị P không phải cấp dưỡng cho con.
Về quan hệ tài sản chung: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị P khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh T, chị P phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
Về án phí: chị Đào Thanh P là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đào Thanh P đối với anh Hồ Phi T.
- Về hôn nhân: chị Đào Thanh P được ly hôn với anh Hồ Phi T.
- Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung tên Hồ Huy L, sinh ngày 23/10/2012 và Hồ Phương T1, sinh ngày 29/8/2015 cho anh Hồ Phi T nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, chị Đào Thanh P không phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Đào Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005437 ngày 27/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Hồ Phi T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS H. Phú Tân; - UBND xã Phú Xuân; - TAND tỉnh An Giang - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |