- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Thái Đình N - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Đình N, sửa bản án sơ thẩm 33/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ────── Bản án số: 210/2017/HSPT Ngày: 25/8/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Luyến
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lượng
Ông Trần Thanh Tùng
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Đức– CBTA
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Khanh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 160/HSPT ngày 30/6/2017 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án số 33/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Thái Đình N, sinh năm 1976, tại H; Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, huyện C1, tỉnh H; Chổ ở hiên nay: ấp H, xã H1, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Thái Đình T1 - (Đã chết) và bà Nguyễn Thị V - sinh năm: 1942, hiện già yếu đang ở với bị cáo; có vợ là chị Dương Thị T- sinh năm: 1989, có 02 nguời con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/11/2016 đến ngày 04/01/2017 cho tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 03(Ba) người đại diện hợp pháp cho bị hại, 01 (một) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản cáo trạng và nội dung bản án hình sự sơ thẩm: Chiều ngày 26/5/2016 Thái Đình N (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển số 57K-4471 (quá hạn đăng ký kiểm định) lưu thông trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Huyện L đi về T. Khi đi đến Km 1837 thuộc ấp H, xã H1, huyện T, Thái Đình N điều khiển xe ô tô 57K-4471 lưu thông trong làn đường dành cho xe mô tô cùng chiều (đây là đoạn đường cho phép xe ô tô lưu thông cùng chiều) đã va đụng vào xe mô tô 60U2-4246 làm cho ông Hoàng Văn B và xe mô tô té ngã xuống đường, ông B bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện và tử vong sau đó.
Căn cứ kết quả khám nghiệm xác định hiện trường sau tai nạn như sau:
Vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa, đường chia làm hai chiều xe chạy bằng dải phân cách cứng, chiều rộng mặt đường là 16m. Lấy hướng Dầu Giây đi về Biên Hòa, lấy lề phải làm chuẩn để đo, vẽ hiện trường.
- Vết cày dài 3m50 đầu vết cày đo ra lề phải 7m20, cuối vết cày là điểm tiếp giáp đầu gác chân trước bên trái, xe mô tô 60U2-4246 với mặt bê tông trong lề phải.
- Xe mô tô biển số 60U2-4246 sau tai nạn nằm ngã bên trái trong lề phải, đầu xe quay vào hướng trạm xăng dầu Q, đuôi xe quay ra lề phải, trục bánh trước đo ra lề phải là 10m50, trục bánh sau đo ra lề phải là 9m70, trục bánh trước đo đến tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 57K- 4471 là 7m70.
- Xe ô tô biển số 57K- 4471 sau tai nạn dừng lại trên đường, quay đầu xe vào hướng trạm xăng dầu Q, đuôi xe quay ra lề phải, tâm trục bánh trước bên phải đo ra lề phải là 22m10, tâm trục bánh sau đo ra lề phải là 18m70.
- Từ điểm chuẩn đo đến trục bánh trước xe mô tô 60U2- 4246 là 6m70, từ điểm chuẩn đo đến trục bánh sau xe mô tô 60U2- 4246 là 6m60.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 146/TT/2016 ngày 30/6/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai: Kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Hoàng Văn B.
- Dấu hiệu chấn thương: Gãy xương sườn 5, 6, 7 bên phải, gãy khung chậu và vỡ bàng quang.
- Dấu hiệu nhiễm trùng: Viêm phúc mạc toàn thể, có nhiều dịch trong ổ bụng, thủng ruột non và các quai ruột đổi màu, xuất huyết dưới nột tâm mạc, suy thận.
Nguyên nhân tử vong: Nhiễm trùng, nhiễm độc do nhiềm trùng đa phủ tạng, viêm xuất huyết phúc mạc, viêm thái hóa cầu thận.
Tổn thương trên do hậu quả của chấn thương gây gãy xương chậu và vỡ bàng quang dẫn đến viêm phúc mạc toàn thể, hoại tử các quai ruột (các quai đổi màu), thủng ruột, tổn thương gãy xương sườn 5, 6, 7 bên phải đo chấn thương gây ra.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số: 10-2017/KLGĐ-TP của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai kết luận: Xe ô tô tải biển số 57K- 4471 trước khi xảy ra tai nạn không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông.
Tại bản án sơ thẩm số: 33/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T đã áp dụng điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự tuyên xử bị cáo Thái Đình N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” với hình phạt 10 tháng tù.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 31/5/2017, bị cáo Thái Đình N có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm số: 33/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Thái Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 10 tháng tù là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên cần giữ nguyên mức án đã xử phạt đối với bị cáo, bác kháng cáo của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo cung cấp thêm chứng cứ mới là giấy xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình; mẹ ruột bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến, có xác nhận hiện đang điều trị bệnh, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Tại phiên tòa bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, ngoài những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Chiều ngày 26/5/2016 Thái Đình N điều khiển xe ô tô biển số 57K-4471 (quá hạn đăng ký kiểm định) lưu thông trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Huyện L đi về T. Khi đến Km 1837 thuộc ấp H, xã H1, huyện T, Thái Đình N điều khiển xe lưu thông rẽ vào cây xăng để đổ xăng, khi điều khiển xe qua làn xe mô tô do thiếu quan sát, khi xe ô tô đã rẽ vào trong sân cây xăng, lúc này xe mô tô biển số 60U2-4246 đang lưu thông trên làn đường xe mô tô, cũng điều khiển theo và va đụng vào xe do Nam điều khiển, làm cho ông Hoàng Văn B không kịp xử lý, nên đụng vào bánh xe sau bên phải của xe ô tô do Thái Đình N điều khiển dẫn đến tai nạn, ông B bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện và tử vong sau đó.
Như vậy bị cáo Thái Đình N đã vi phạm khoản 23 Điều 8; khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, nên hành vi của bị cáo Thái Đình N đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án 10 (Mười) tháng tù.
Bị cáo biết được việc điều khiển phương tiện giao thông là phải chấp hành luật giao thông, đi đúng làn đường, phải đảm bảo không gây tai nạn nhưng bị cáo không chấp hành, hậu quả xảy ra làm ông Hoàng Văn B chết. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ.
Xét về lỗi: Vụ tai nạn xảy ra do bị cáo điều khiển phương tiện giao thông khi rẽ phải không đảm bảo an toàn gây tai nạn, tuy nhiên người bị hại thiếu quan sát, không làm chủ phương tiện, khi xe ô tô đã vào cây xăng được 10 mét thì xe bị hại điều khiển theo tông vào phía sau xe ô tô, do vậy người bị hại cũng có một phần lỗi.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án sơ thẩm đã nhận định và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm giấy xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ cháu lớn sinh ngày 13/5/2014, cháu nhỏ sinh ngày 10/9/2016, mẹ ruột của bị cáo là bà Nguyễn Thị V được tặng Huân chương kháng chiến, hiện già yếu đang điều trị bệnh tại Bệnh viện tỉnh Đồng Nai (có xác nhận của Bệnh viện); Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả bồi thường dân sự cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại. Đây là những tình tiết mới nên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, áp dụng điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Đình N, sửa bản án sơ thẩm 33/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T.
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Thái Đình N -10(Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01(Một) năm 08 (Tám) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/8/2017), về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Thái Đình N cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã H1, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Thái Đình N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh – VKS H (2); - B5 – CA H (2); - TA huyện (2); - Bị cáo (1); - THA H (1) - PV 27 (1) - Lưu (5). | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vũ Hồng Luyến |