- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của chi ̣ Bùi Thi ̣ H.
- Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 219 Bộ luật Dân sự; Điều 280 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 21/2018/HNGĐ-PT Ngày 01 tháng 6 năm 2018 V/v Chia tà i sản chung sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các thẩm phán:
Ông Thân Quốc Hùng
Ông Nguyễn Gia Lương
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn.
Do bản án sơ thẩm số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện S bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐ-PT, ngày 18 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Chị H ủy quyền cho chị Bùi Thị T, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Số Nhà 19, Thiều X, phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 27/3/2018)
-Người bảo vệ quyền và lợi pháp cho chị Bùi Thị Hồng:
Luật sư Nguyễn Văn T - Văn phòng Luật sư T - Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang (có măt).
-Bị đơn: Anh Đoàn Mạnh H, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng chinh sách xa hô ̣̃ i Viê ̣t Nam
́
Ủy quyền cho Ngân hàng chính sách huyện S (văn bản ủy quyền số 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016)
Địa chỉ: Thôn Hạ 2, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang
Do ông Thân Văn Ti Chức vu ̣ Phó giám đốc Phòng giao di ̣ch Ngân hàng chính sách xã hội huyện S, tỉnh Bắc Giang là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 203/QĐ-NHCS ngày 15/12/2017; Ông T có đơn xin xét xử vắng mă ̣t).
-Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Bùi Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng trình bày: Chị kết hôn với anh Đoàn Mạnh H năm 2006, do vợ chồng mâu thuẫn không ở được với nhau nên năm 2017 Tòa án đã giải quyết cho chi ̣ và anh H ly hôn và giải quyết về con chung; còn về tài sản chi ̣ và anh H chưa yêu cầu Tòa án giải quyết, nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Tài sản chung của chi ̣ và anh H gồm có: 01 nhà ống xây cấp 4 lợp tôn 40m2 (xây năm 2007), trên diện tích đất ở 150m2 mua năm 2006 (trong đó đất thổ cư 70m2, đất vườn 80m2), đất không có số lô , thử a thuô ̣c thôn T , xã C, huyện S, đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyê ̣n S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đoàn Ma ̣nh H và Bùi Thị H số AD 792406, ngày 31/01/2008.
Về công nợ: Năm 2017 vay Phòng giao di ̣ch N gân hàng chính sách xã hội huyện S số tiền 50.000.000đ hiện nay chưa trả.
Chị yêu cầu Tòa án xác nhận và giải quyết tài sản , công nợ chung theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t; chị có nguyện vọng được sử hữu nhà + đất và trả tiền cho anh H.
Ngoài ra, còn mô ̣t số tài sản nhỏ khác như: đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, hàng sắt và một số công nợ khác vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết , không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đoàn Mạnh H xác nhận một phần lời khai của chị H anh trình bầy: Anh kết hôn với chi ̣ Bùi Thị H năm 2006, do vợ chồng mâu thuẫn năm 2017 Tòa án đã giải quyết cho anh và chi ̣ H được ly hôn và giải quyết về con chung; còn về tài sản anh và chi ̣ H chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung gồm có: 01 nhà ống cấp 4 lợp tôn 40m2, trên diện tích đất ở 150m2 (trong đó đất thổ cư 70m2, đất vườn 80m2) không có số lô , thử a, tờ bản đồ thuô ̣c thôn T, xã C, huyện S, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh và chi ̣ H số AD792406, ngày 31/01/2008.
Về công nợ: Năm 2017 vợ chồng vay Phòng giao dịch N gân hoàng chính sách xã hội huyện S số tiền 50.000.000đ chưa trả.
Về quyền đối với tài sản trên thì chỉ có anh và chi ̣ H là người có công đóng góp, ngoài ra không có ai khác. Về công sứ c đóng góp là khi mua đất bố me ̣ đẻ anh cho số tiền tương đương bằng ¾ giá tri ̣ lô đất ; anh hiê ̣n nay không có lô đất ở hay nhà nào khác , do vâ ̣y anh đề nghi ̣ Tòa án giải quyết cho anh được quy ền sở hữu nhà + đất, anh nhất tri trả tiền chênh lê ̣ch cho chi ̣ H ; anh cũng đề nghi ̣ Tòa án chia
́ tài sản cho anh phần nhiều hơn , vì anh được bố mẹ cho tiền đóng góp nhiều hơn trong quá trinh hinh thành tài sản; công nợ chia đôi mỗi ngườ i trả 1/2.
̀
̀
Ngoài ra, còn 1 số tài sản nhỏ khác như: Đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, hàng sắt và mô ̣t số công nợ khác anh và chị H tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngườ i có quyền lợi và nghia vụ liên quan là Ngân hàng chính huyện S do
̃ ông Thân Văn T đại diê ̣n theo ủy quyền trình bầy:
Ngày 18/6/ 2017 anh Đoàn Mạnh H, chị Bùi Thị H có vay Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện S số tiền 50.000.000đ, quá trình vay có làm hợp đồng vay nợ, thời ha ̣n vay là 05 năm, lãi suất số tiền gốc vay 10.000.000 là 0.275%/tháng và số tiền gốc vay 40.000.000đ là 0.55%/tháng. Hiê ̣n anh H , chị H chưa trả số tiền gốc 50.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 09/02/2018 là 185.000 đồng.
Nay Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa anh H và chị H thì Ngân hàng yêu cầu anh H , chị H phải có trách nhiệm trả n ợ cho Ngân hàng số tiền gốc + lãi trên theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm: Chị Bùi Thị H, anh Đoàn Mạnh H vẫn giữ nguyên ý kiến của mình như đã trình bày ở trên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2017 đa tiến hã
̀nh xem xét, thẩm đi ̣nh tại chỗ, kết quả như sau: Diê ̣n tich đất là 150m2 tại thôn T, xã C (trong đó có 70m2 là đất ở và 80m2
́ đất vườ n trồng cây), có các cạnh hướng Tây dài 05m, hướ ng Đông dài 05m, hướ ng Nam dài 30m, hướ ng Bắc dài 30m.
Về tài sản trên đất gồm có : 01 nhà ống xây cấp 4 lợp tôn dài 5 x 7,9m = 39,5m2 + 01 bán mái lợp pờ rô 5 x 3,8m = 19m2; 01 nhà tạm nằm trên đất hành lang giao thông và đất ở 5,9 x 5 = 29,5m2 + 01 bán mái lợp pờ rô 3 x 5 = 15m2; 01 bếp xây ta ̣m lợp tôn 3,1 x 2,2 m = 6,82m2.
Ngày 07/11/2017 anh H và chị H tự thỏa thuâ ̣n giá tri ̣ tài sản như sau : Đất 150m2 = 250.000.000đ; 01 nhà ống xây cấp 4 lợp tôn 39,5m2 = 30.000.000đ. Tổng giá trị tài sản: 280.000.000đ (Ngoài ra còn một số phần tài sản khác tự phân chia , không yêu cầu Tòa án phân chia, đi ̣nh giá).
Với nội dung trên bản án sơ thẩm số 02/2018/DSST-HNGĐ ngày 09/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện S đã áp dụng các Điều 33, 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, 165 và Điều 235 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự; Điều 166, 219 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12 2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn chi ̣ Bùi Thi ̣ H.
Về phần chia tài sản như sau:
Giao cho anh Đoàn Mạnh H được quyền quản lý , sở hữu gồm: 01 nhà ống cấp 4 lợp tôn 39,5m2, 01 bán mái l ợp pờ rô 19m2, 01 nhà tạm n ằm trên đất hành lang giao thông và đất ở 29,5m2, 01 bán mái l ợp pờ rô 15m2; 01 bếp xây ta ̣m l ợp tôn 6,82m2 trên diện tích đất ở 150m2 (trong đó đất thổ cư 70m2, đất vườn 80m2) không có số lô, thửa, tờ bản đồ thuô ̣c thôn thượng, xã Cẩm Đàn, huyện S, đã được UBND huyê ̣n S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đoàn Ma ̣nh H và Bùi Thi ̣ H số AD792406, ngày 31/01/2008.
Anh Đoàn Mạnh H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chinh sách xa hô ̣̃ i
́ Viê ̣t Nam tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện S số tiền gốc + lãi tính đến ngày 09/02/2018 là 50.185.000đ.
Anh Đoàn Mạnh H phải trả tiền chênh lệch chia tài sản cho chi ̣ Bùi Thi ̣ H là 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u đồng chẵn).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất 10%/năm (các bên không thỏa thuận được về lãi suất) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phi và phi thẩm đi ̣nh:
́
́
Về phi thẩm đi ̣nh : Chị H chịu 750.000đ (chị Hồng đa nô ̣̃ p đủ ), anh H chịu
́ 750.000đ (số tiền anh H nô ̣p trả cho chi ̣ H).
Về án phi : Chị H, anh H thuô ̣c hô ̣ nghèo nên được miễn toàn bô ̣ án phi
́
́ DSST.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định quyền kháng cáo, quyền thi hành án cho các đương sự.
Ngày 23/02/2018 chị Bùi Thị H kháng cáo bản án. Do chị H là hộ nghèo nên được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Chị H kháng cáo đề nghị định giá lại tài sản là đất và đề nghị xem xét hủy bản án sơ thẩm và không hủy bản án thì đề nghị sửa bản án giao cho chị được quản lý, sử dụng hợp pháp là nhà và đất và trả cho anh H 300.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn chị Bùi Thị H không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền là chị Bùi Thị T và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H trình bầy và đề nghị: Chị H kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm. Lý do căn cứ Điều 27 và khoản 5 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình quy định nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên. Theo tài liệu xác minh luật sư đã xuất trình ngày 26/02/2018 anh H có 100m2 đất do bố mẹ cho ở thôn B, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên, chị H không có chỗ ở nào khác phải ở nhờ bố mẹ đẻ và hiện đang được giao nuôi một con chung. Bản án sơ thẩm giao cho anh H nhà và đất ở và chia bằng tiền cho chị H là vi phạm khoản 5 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật hôn nhân và gia đình giao nhà và đất ở cho chị H và chị H trả tiền cho anh H để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, nếu không thì chia bằng hiện vật cho cả hai như sơ đồ chia mà luật sư gửi hội đồng xét xử. Cụ thể: giao cho chị H 3,5m mặt đường và dài 23m = 75m2 , giao cho anh H (1,7m x 20m) + ( 5m x 7m) = 75m2 phía sau.
Ngoài ra, Tại phiên tòa phúc thẩm thì chị H đề nghị chị nhận nhà và đất 150m2 chị trả cho anh H 230.000.000 đồng và trả nợ Ngân hàng chính sách huyện S 50.185.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đề nghị của chị H.
Chị Bùi Thị H trình bầy: Chị nhất trí ý kiến của luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đề nghị tự nguyện của chị: Chị được sử dụng nhà và đất, chị trả tiền cho anh H 230.000.000 đồng, trả nợ Ngân hàng 50.185.000 đồng.
Anh Đoàn Mạnh H trình bầy: Anh không nhất trí ý kiến đề nghị của luật sư và chị H. Anh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Vì hiện tại anh không có chỗ ở nào khác, đất ở huyện K, tỉnh Hưng Yên luật sư trình bầy anh đã bán cho anh trai anh để mua đất ở này, khi ly hôn Tòa án giao cho mỗi người nuôi dưỡng và chăm sóc một con chung nhưng hiện tại hai con chung đang ở với anh, anh không còn chỗ ở nào khác. Theo định giá tài sản mà chị H yêu cầu thì đất trị giá 165.000.000 đồng như vậy anh nhận nhà, đất 150m2 và trả chị H 100.000.000 đồng là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn, ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃
liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị H. Sửa bản án sơ thẩm. Giao nhà và đất ở cho anh H, anh H trả nợ Ngân hàng và trả chị H ½ giá trị tài sản. Căn cứ nguồn gốc hình thành tài sản và công sức đóng góp của cả hai vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà , sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng chính sách huyện S do ông Thân Văn T đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng xét xử vắng mặt.
Về nội dung: Chị Bùi Thị H và anh Đoàn Mạnh H kết hôn vào ngày 10/02/2006 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn chị H đã khởi kiện xin ly hôn anh H. Tại bản án hôn nhân và gia đình số 07/2017/QĐST-HNGĐ ngày 23/02/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n S, tỉnh Bắc Giang đã xử cho chị H được ly hôn anh H và giải quyết về con chung, không giải quyết về tài sản.
Ngày 02/10/2017 chị H khởi kiện đề nghị chia tài sản sau khi ly hôn, chị hòng và anh H đều xác định tài sản chung có trong thời kỳ hôn nhân gồm: 01 nhà ống xây cấp 4 lợp tôn 39,5m2 xây năm 2007, trên diện tích đất 150m2 mua năm 2006 (trong đó đất thổ cư 70m2, đất vườn 80m2), đất không có số lô , thửa, tờ bản đồ thuô ̣c thôn T , xã C, huyện S, đã được UBND huyê ̣n S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đoàn Mạnh H và Bùi Thị H số AD 792406, ngày 31/01/2008; tổng giá tri ̣ tài sản nhà + đất anh H , chị H tự thoả thuâ ̣n là 280.000.000đ. Ngoài ra, tài sản trên đất còn có 01 bán mái lợp pờ rô 19m2, 01 nhà tạm n ằm trên đất hành lang giao thông và đất ở 29,5m2, 01 bán mái l ợp pờ rô 15m2; 01 bếp xây ta ̣m lợp tôn 6,82m2 , chị H, anh H xác định giá trị thấp không yêu cầu phân chia
Về công nợ: Năm 2017 vay Phòng giao di ̣ch Ngân hoàng chính sách xã hội huyện S 50.000.000đ chưa trả + lãi tính đến ngày 09/02/2018 là 185.000đ.
Bản án sơ thẩm đã giao toàn bộ tài sản trên đất và đất ở, đất vườn cho anh H quản lý, sở hữu và anh H phải trả nợ cho Ngân hàng chinh sách xa hô ̣̃ i Viê ̣t Nam
́ tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện S số tiền gốc + lãi tính đến ngày 09/02/2018 là 50.185.000đ; anh H phải trả cho chị H bằng tiền 100.000.000 đồng. Chị H kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm. Xét kháng cáo và đề nghị của chị Bùi Thị H. Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Bùi Thị H; người đại diện ủy quyền của chị H là chị Bùi Thị T và luật sư đề nghị giao toàn bộ tài sản trên đất 150m2 gồm: 70m2 đất ở, 80m2 đất vườn cho chị H; chị H trả nợ Ngân hàng chính sách huyện S theo như bản án sơ thẩm quyết định và trả bằng tiền cho anh H 230.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Chị H là phụ nữ, hiện tại không có chỗ ở phải ở nhờ bố mẹ đẻ và nuôi một con chung. Mặt khác, theo biên bản định giá tài sản ngày 21/5/2018 thì 70m2 đất ở và 80m2 đất vườn giá trị tính bằng tiền là 165.000.000 đồng và tài sản trên đất mà chị H và anh H đã thỏa thuận tại cấp sơ thẩm là 30.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung của anh H, chị H là 195.000.000 đồng (theo thỏa thuận tạị Tòa sơ thẩm thì tài sản chung có tổng giá trị bằng tiền là 280.000.000 đồng). Như vậy, với số tiền chị H tự nguyện trả cho anh H và trả nợ Ngân hàng thì anh H được lợi về tài sản; với số tiền 230.000.000 đồng anh H có đủ khả năng mua đất khác để tạo lập nơi ở mới. Mặc dù, anh H không đồng ý nhưng Hội đồng xét xử thấy đề nghị của chị H tại phiên tòa phúc thẩm tự nguyện lấy nhà, đất và trả nợ Ngân hàng chính sách huyện S 50.185.000 đồng, trả cho anh H 230.000.000 đồng là đảm bảo quyền lợi cho anh H và phù hợp nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ con chưa thành niên... theo khoản 5 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo và sự tự nguyện của chị Bùi Thị H. Sửa bản án sơ thẩm: Giao tài sản là nhà và các công trình trên đất và toàn bộ đất ở, đất vườn cho chị H quản lý, sử dụng. Chị H trả tiền cho anh H 230.000.000 đồng và trả nợ Ngân hàng chính sách huyện S 50.185.000 đồng.
Về án phi, chi phí định gía tài sản:
́
Về chi phí định giá: Chi phí định giá tài sản hết số tiền 2.000.000 đồng. Chị H xin chịu cả. Xác nhận chị H đã nộp đủ.
Về án phí: Chị H, anh H thuộc hộ nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ NQ-UBTVQH ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ án phí dân sự cho chị H, anh Hoán.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm có thiếu sót cần rút kinh nghiệm: Đối với số tiền mà Tòa sơ thẩm buộc anh H trả cho Ngân hàng huyện S 50.185.000 đồng gồm 50.000.000 đồng tiền vay gốc và lãi tính đến khi xét xử sơ thẩm 09/02/2018 là 185.000 đồng nhưng lại không quyết định chịu lãi suất tiếp theo kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016. Nên Hội đồng xét xử bổ sung vào phần quyết định của bản án phúc thẩm để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo và tự nguyện của chị Bùi Thị H. Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 33, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 148, Điều 165 và Điều 235 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự; Điều 166, 219 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1.Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của chi ̣ Bùi Thi ̣ H.
2.Giao cho chị Bùi Thị H được quyền quản lý , sử dụng 01 nhà ống cấp 4 lợp tôn diện tích 39,5m2, 01 bán mái lợp pờ rô diện tích 19m2, 01 nhà tạm nằm trên đất hành lang giao thô ng và đất ở 29,5m2, 01 bán mái lợp pờ rô 15m2; 01 bếp xây tạm lợp tôn diện tích 6,82m2 trên diện tích đất 150m2 (trong đó đất thổ cư 70m2, đất vườn 80m2) có các cạnh hướng Tây rộng 05m, hướ ng Đông rộng 05m, hướ ng Nam dài 30m, hướ ng Bắc dài 30m thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00; Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện S, đã được UBND huyê ̣n S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đoàn Mạnh H và Bùi Thi ̣ H số AD792406, ngày 31/01/2008.
Chị Bùi Thị H phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao di ̣ch Ngân hàng chính sách xã hội huyện S số tiền gốc + lãi tính đến ngày 09/02/2018 là 50.185.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (09/02/2018) chị Bùi Thị Hồng phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Chị Bùi Thị H trả cho anh Đoàn Mạnh H số tiền 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triê ̣u đồng chẵn).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất 10%/năm (các bên không thỏa thuận được về lãi suất) tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3.Về án phi, chi phí định giá:
́
-Về chi phí định giá: Chị Bùi Thị H phải nộp 2.000.000 đồng. Xác nhận chị H đã nộp đủ số tiền 2.000.000 đồng.
-Về án phi chia tài sản: Miễn tòan bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chi ̣ Bùi Thị
́ H, anh Đoàn Mạnh H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP . | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |