vanban.org

Bản án 21/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 15/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nh n kháng cáo của bị cáo Phan Thị Mỹ L và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Mỹ L 06 (Sáu năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn t t nh t ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị My L phạm tội :Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Căn c điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HS-PT
Ngày : 15-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn

Các Thẩm phán:

1. Ông Cao Minh Lễ

2. Bà Thái Thị Huyền Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/TLPT-HS ngày 09/02/2018 đối với bị cáo Phan Thị Mỹ L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

han Th M L, sinh năm 1988, tại huyện C, tỉnh An Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp T, x C, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp P, x K huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phan Văn T, sinh năm 1970 và bà Cao Thị Mỹ D, sinh năm 1965; ch ng Trần Văn D, sinh năm 1987; Con là Trần Gia H, sinh ngày 08/5/2017.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án, những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 7/2017, Phan Thị Mỹ L quen biết với người thanh niên tên H, H kêu L mua ma túy về bán lại kiếm lời và h a s giới thiệu người đến mua ma túy của L, thì L đ ng ý. Lần đầu L gọi điện thoại cho H đặt mua 10 tép ma túy đá, giá 270.000 đ ng/tép. T lần th 02 đến lần th sáu, mỗi lần mua 05 tép, cách nhau 02 đến 03 ngày/lần. Sau khi mua về, L bán ma túy lần lượt cho 06 – 07 người (không r họ tên, địa chỉ 27 tép và bán cho Đặng Quốc V 01 tép, với giá 300.000 đ ng/tép. Do V không có tiền nên thế chấp giấy ch ng minh nhân dân và giấy đăng ký xe mô tô biển số 67N5-4781 cho L giá 500.000 đ ng, L đ ng ý bán cho V 01 tép và đưa thêm cho V 200.000 đ ng. T ng cộng các lần L bán được 28 tép ma túy, còn lại 07 tép, đến ngày 07/8/2017 L mua thêm của H 05 tép và 04 bịch ma túy đá. Số tiền L hưởng lợi t việc bán ma túy là 840.000 đ ng.

Ngày 08/8/2017, V rủ Phan Thành C mua ma túy sử dụng, thì C đ ng ý, nên V điện thoại cho L h i mua ma túy thì L h n đến nhà để giao nh n. Khoảng 14 giờ c ng ngày, V đến nhà gặp L đưa 800.000 đ ng mua 01 tép ma túy giá 300.000 đ ng và chuộc lại giấy ch ng minh nhân dân, giấy đăng ký xe mô tô; C mua 01 tép ma túy và trả cho L 300.000 đ ng thì bị Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ trên người của V và C mỗi người 01 tép ma túy, thu của L 1.181.000 đ ng (trong đó 1.100.000 đ ng tiền của L v a bán ma túy, 81.000 đ ng là tiền cá nhân . Khi này, L lén lấy túi vải màu đ có 10 tép và 04 bịch ma túy đá còn lại cất giấu vào bên trong quần của cháu Trần Gia H, sinh ngày 08/5/2017 (con của L do Phạm Thị Ph người c ng xóm đang bế H, thì phát hiện thu giữ c ng một số v t ch ng có liên quan.

Ngày 24/8/2017, L bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố điều tra.

Căn c Kết lu n giám định số 339/KLGT-PC54 ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết lu n:

- Tinh thể màu trắng ch a trong 01 đoạn ống hút nhựa sọc màu trắng – h ng hàn k n, để trong một bao thuốc lá hiệu ET, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng 0,1853 gam, loại: Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng ch a trong 01 đoạn ống hút nhựa sọc màu trắng – xanh hàn k n, đựng trong một bao thuốc lá hiệu ET, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng 0,1147 gam, loại : Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng ch a trong 03 bọc nilon trong suốt hàn k n, 01 bọc nilon trong suất có r nh bóp viền màu xanh, 04 đoạn ống hút nhựa sọc màu trắng – xanh, tất cả để để trong túi vải màu đ dây kéo màu trắng, được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có t ng trọng lượng 4,6705 gam, loại: Methamphetamine.

V t ch ng thu giữ:

- Số tiền 1.181.000đ.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, v bên ngoài màu trắng, bạc (đ qua sử dụng ;

- 07 ống thủy tinh có chiều dài 14cm - 40 cm;

- 14 ống hút màu xanh dài 17,5 cm

- 01 ống thủy tinh có đầu nhọn dài 14 cm;

- 01 n thủy tinh;

- 01 b t lửa gas màu xanh;

- 01 cây kéo bằng kim loại dài 10,5 cm;

- 02 ống hút màu sọc xanh – trắng;

- 01 ống hút màu sọc tím – trắng;

- 60 túi nilon màu trắng viền xanh có r nh bóp k n 01 đầu để bên trong hộp da màu đen;

- 01 dao tự chế cán bằng kim loại được quấn dây màu xanh dài 20 cm, mũi dao bằng kim loại dài 47 cm;

- 01 dao tự chế cán bằng gỗ dài 18 cm, mũi dao bằng kim loại dài 40 cm;

- 01 phong bì ký hiệu M1: được niêm phong (Vụ số:339/KLGT – PC54 ngày 15/8/2017 có in hình dấu tròn màu đ của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy (giám định viên , Cao H ng Tiến (người ch ng kiến . Bên trong có mẫu v t còn lại sau khi đ giám định có trọng lượng: 0,1593 gam (không phẩy một năm ch n ba gam . Tại biên bản niêm phong và giao, nh n đối tượng giám định vào ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang ghi nh n.

- 01 phong bì ký hiệu M2: được niêm phong (Vụ số:339/KLGT – PC54 ngày 15/8/2017 có in hình dấu tròn màu đ của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy (giám định viên , Cao H ng Tiến (người ch ng kiến . Bên trong có mẫu v t còn lại sau khi đ giám định có trọng lượng: 0,1002 gam (không phẩy một không không hai gam . Tại biên bản niêm phong và giao, nh n đối tượng giám định vào ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang ghi nh n.

- 01 phong bì ký hiệu M3 – M7: được niêm phong (Vụ số: 339/KLGT – PC54 ngày 15/8/2017 có in hình dấu tròn màu đ của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy (giám định viên , Cao H ng Tiến (người ch ng kiến . Bên trong có mẫu v t còn lại sau khi đ giám định có trọng lượng: 4,5035 gam (bốn phẩy năm không ba năm gam . Tại biên bản niêm phong và giao, nh n đối tượng giám định vào ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh An Giang ghi nh n.

Tại bản cáo trạng số 42/VKS-HS ngày 01 tháng 11 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đ truy tố Phan Thị Mỹ L về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ lu t hình sự đ được sửa đ i, b sung năm 2009.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đ quyết định:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ lu t Hình sự đ được sửa đ i, b sung năm 2009.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Mỹ L 06 (sáu) năm t về tội Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn t t nh t ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý v t ch ng; án ph hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 12/01/2018 bị cáo Phan Thị Mỹ L có đơn kháng cáo xin giảm nh hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về t nh hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Phan Thị Mỹ L kháng cáo trong hạn lu t định nên đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nh n việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Án sơ thẩm đánh giá đúng t nh chất vụ án và xét xử bị cáo Phan Thị Mỹ L về tội Mua bán trái phép chất ma túy” và tuyên phạt m c án 06 năm t là đúng quy định của pháp lu t. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nh hình phạt nhưng không đưa ra tình tiết nào mới làm cơ sở xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nh n kháng cáo của bị cáo Phan Thị Mỹ L, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: T nh đến ngày mở phiên tòa phúc thẩm là ngày 15/02/2018 thì Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017 và Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực t ngày 01/01/2018; Vì v y, Hội đ ng xét xử áp dụng để xét xử bị cáo Phan Thị Mỹ L theo Điều lu t mới của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017 và giải quyết các vấn đề khác trong c ng một vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phan Thị Mỹ L đ khai nh n hành vi mua bán trái phép chất ma túy với số lần, số lượng đúng như kết quả điều tra và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử. Bị cáo trực tiếp mua ma túy của một người tên H và bán lại cho nhiều người, nhiều lần. Trong ngày 08/8/2017 bị cáo đang bán ma túy cho Đặng Quốc V, Phan Thành C thì bị Công an huyện C bắt quả tang g m tiền và ma túy. Nay bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp lu t nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Căn c vào quy định của pháp lu t, hành vi của bị cáo Phan Thị Mỹ L đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định và tr ng phạt tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ lu t hình sự năm 2009 (nay là điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ lu t hình sự năm 2015 đ được sửa đ i, b sung năm 2017) nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn c .

Xét kháng cáo của bị cáo Phan Thị Mỹ L thì thấy: Bị cáo là một người trưởng thành, kh e mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo phải biết r việc gì nên làm và không nên làm. Chỉ vì hám lợi và lười biếng, muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn nhiều công s c lao động vất vả như bao người khác nên bị cáo đ vấn thân vào con đường mua bán ma túy. L ra khi H đến kêu L mua ma túy của H về bán lại kiếm lời thì bị cáo có thể t chối vì biết việc làm này hoàn toàn sai trái, bị pháp lu t ngăn cấm nhưng bị cáo bất chấp, cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến ch nh sách, pháp lu t của Nhà nước về việc nghiêm cấm tàng trữ, v n chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, gây mất tr t tự trị an x hội ở địa phương, dư lu n lên án và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì v y, việc xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp lu t là hết s c cần thiết. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 và các tình tiết giảm nh quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ lu t hình sự năm 2009 xử phạt bị cáo 06 năm t về tội Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn c , ph hợp pháp lu t. Đây là m c án dưới m c thấp nhất của khung hình phạt được cấp sơ thẩm áp dụng là đ có sự cân nhắc th a đáng, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ng a chung. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nh hình phạt nhưng không nêu được tình tiết giảm nh nào mới so với những gì mà cấp sơ thẩm đ xét xử nên không có cơ sở để Hội đ ng xét xử phúc thẩm xem xét.

T những nh n định trên, Hội đ ng xét xử không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

Do kháng cáo không được chấp nh n nên bị cáo Phan Thị Mỹ L phải chịu tiền án ph hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015; Lu t ph và lệ ph năm 2015; và điểm b, Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp lu t, kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nh n kháng cáo của bị cáo Phan Thị Mỹ L và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r,s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ lu t hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Mỹ L 06 (Sáu năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn t t nh t ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Phan Thị Mỹ L phải chịu 200.000 đ ng (hai trăm nghìn đ ng án ph hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp lu t, kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ