vanban.org

Bản án 21/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lâm Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. Xử phạt bị cáo Lâm Minh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Minh H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lâm Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-ST
Ngày: 04-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.

2. Ông Trần Quang Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Lâm Minh H, sinh năm 2003, tại tỉnh Đ; nơi đăng ký thường trú: khu phố A1, phường A, thành phố B, tỉnh Đ (nay là phường L, tỉnh Đ); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Thương H, sinh năm 1977 và bà Võ Thị Liên H, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo chưa có vợ, con; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2025; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Hữu T và ông Lê Hữu T1, Luật sư Công ty Luật TNHH H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Ông Lê Hữu T có mặt, ông Lê Hữu T1 vắng mặt.

- Bị hại:

1. Bà Vũ Ngọc Quỳnh N, sinh năm 2007; địa chỉ: khu phố B, phường B1, thành phố B, tỉnh Đ (nay là phường T, tỉnh Đ); có mặt.

2. Vũ Thị T (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại Vũ Thị T:

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1945; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Y (nay là xã B, tỉnh L);

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện N, Thành phố H (nay là xã N, Thành phố H). Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/02/2025); vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1955; địa chỉ: thôn 5, xã N, huyện N, tỉnh N (nay là xã N1, tỉnh N);

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Mạnh C: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện N, Thành phố H (nay là xã N, Thành phố H). Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/02/2025); vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Ông Nguyễn Quang S, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp 1, xã G, huyện Đ, tỉnh Đ (nay là xã Đ, tỉnh Đ).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang S: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện N, Thành phố H (nay là xã N, Thành phố H). Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/02/2025); vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Minh H là người không có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 29/01/2025, sau khi xem bắn pháo hoa tại thành phố mới Bình Dương xong, H điều khiển xe mô tô hiệu Citinew, dung tích 107 cm³, biển số 67T2-4095 chở theo bạn gái là chị Vũ Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 25/7/2007 ngồi sau đi về nhà trọ tại phường T, Thành phố H. Đến khoảng 00 giờ 35 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 67T2-4095 lưu thông trên đường D8, theo hướng từ đường N3 đến đường N1, trong điều kiện trời tối, đường khô ráo, tình hình giao thông trên đường vắng. Khi vừa qua giao lộ ngã ba đường D8 và đường N2 thì va chạm với bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955, thường trú tại xã N, huyện N, tỉnh N (nay là xã N1, tỉnh N) đang đi bộ từ trái sang phải đường (theo chiều đi của H). Tai nạn xảy ra làm bà T chết tại hiện trường, chị N bị sây sát ngoài da.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường được lập vào lúc 00 giờ 35 phút ngày 29/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định như sau:

- Mảnh lá chuối kích thước 50 x 43 cm (4) trên mặt đường D8, vị trí cách mép chuẩn 1 là 4,9 mét, cách mép chuẩn 2 là 2,2 mét, chân tử thi (1) là 4,7 mét.

* Theo Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 08 giờ ngày 31/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe mô tô biển số 67T2-4095, như sau:

- Vỡ ốp nhựa đầu xe và cụm đèn chiếu sáng phía trước.

- Vỡ ốp mặt nạ xe trước bên trái kích thước 30 x 20 cm, cách đất 70 cm.

- Trục cổ lệch biến dạng hướng từ trái qua phải.

- Cánh bửng phải vỡ rời phần ốp ngoài.

- Cánh bửng trái vỡ rời.

- Biến dạng cần sang số từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới.

- Biến dạng gác chân trước trái, đầu gác chân mài mòn cao su và kim loại.

- Mài mòn: Đầu tay lái trái, gác chân sau trái.

- Vỡ đèn tín hiệu sau trái, vỡ ốp ngoài.

* Theo Kết luận giám định số 850/KL-KTHS ngày 20/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T: Các dấu vết vỡ khuyết ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng, cạnh trái mặt nạ trước, cánh bửng trái (các mảnh vỡ rơi ở hiện trường, ngay vị trí tử thi), cong lệch mũi vè trước sang phải, cong biến dạng phuộc trước bên trái về sau, các dấu vết này phù hợp với các dấu vết sây sát da, bầm tụ máu ở mặt bên phải thân người, tay phải và gãy xương cẳng chân phải nạn nhân Nguyễn Thị T.

2. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T được hình thành theo cơ chế va chạm giữa mặt bên trái phần đầu xe mô tô với mặt bên phải thân người nạn nhân Nguyễn Thị T theo hướng từ phải qua trái, từ sau về trước của nạn nhân tạo ra dấu vết trên phương tiện và nạn nhân Nguyễn Thị T.

3. Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T nằm ở khu vực phía trước bên trái đầu vết chà vết cày ký hiệu số (3) và nằm trên phần đường bên phải của đường D8, theo hướng từ đường N3 về đường N1, như trên Sơ đồ hiện trường.

Theo Kết luận giám định số 850/KL-KTHS ngày 20-02-2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh), kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T: Các dấu vết vỡ khuyết ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng, cạnh trái mặt nạ trước, cánh bửng trái (các mảnh vỡ rơi ở hiện trường, ngay vị trí tử thi), cong lệch mũi vè trước sang phải, cong biến dạng phuộc trước bên trái về sau, các dấu vết này phù hợp với các dấu vết sây sát da, bầm tụ máu ở mặt bên phải thân người, tay phải và gãy xương cẳng chân phải nạn nhân Nguyễn Thị T.

2. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T được hình thành theo cơ chế va chạm giữa mặt bên trái phần đầu xe mô tô với mặt bên phải thân người nạn nhân Nguyễn Thị T theo hướng từ phải qua trái, từ sau về trước của nạn nhân tạo ra dấu vết trên phương tiện và nạn nhân Nguyễn Thị T.

3. Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô hai bánh biển số 67T2-4095 và nạn nhân Nguyễn Thị T nằm ở khu vực phía trước bên trái đầu vết chà vết cày ký hiệu số (3) và nằm trên phần đường bên phải của đường D8, theo hướng từ đường N3 về đường N1, như trên Sơ đồ hiện trường.

* Theo Kết luận giám định tử thi số 795/KLGĐTT-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T là do đa chấn thương.

* Theo Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn ngày 29-01-2025 của Lâm Minh H xác định như sau: Định lượng Ethanol (Cồn) [Máu] (0,000mg/L): 0; và Phiếu kết quả xét nghiệm của Bệnh viện đa khoa Phúc An Sài Gòn – CN3: Amphetamin (test nhanh): Âm tính; THC- Marijunan (test nhanh): Âm tính; Metaphetamin (test nhanh): Âm tính; Morphine: Âm tính; Cod: Âm tính.

Về vật chứng của vụ án:

01 (một) xe mô tô hiệu Citinew, dung tích 107 cm³, biển số 67T2-4095. Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 67T2-4095 là của Lâm Minh H nên ngày 27/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã trả lại xe cho H.

Về trách nhiệm dân sự:

Lâm Minh H đã hỗ trợ chi phí mai táng và bồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho đại diện gia đình bà Nguyễn Thị T là chị Vũ Thị N, sinh năm 1984, thường trú tại xã Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (là cháu ruột của bà T) số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Chị N không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H.

Đối với chị Vũ Ngọc Quỳnh N chỉ bị xây xát ngoài da, đã có Đơn từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu bồi thường gì đối với Lâm Minh H.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, Lâm Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 15/CT-VKSKV 15 ngày 13-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lâm Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Minh H mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không đề nghị giải quyết.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa: Thống nhất về tội danh truy tố, đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đơn bãi nại theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bệnh lý hen suyễn, là lao động chính trong gia đình, là công dân tốt có ý thức hướng thiện theo quy định tại khoản 2 Điều 51. Xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức thấp nhất của khung và cho hưởng án treo.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 35 phút ngày 29/01/2025, tại giao lộ ngã ba đường D8 và đường N2, Lâm Minh H (là người không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô hiệu Citinew, dung tích 107 cm³, biển số 67T2-4095 chở theo chị Vũ Ngọc Quỳnh N ngồi phía sau, lưu thông trên đường thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào giao lộ nên đã để mặt bên trái phần đầu xe mô tô biển số 67T2-4095 va chạm với với bà Nguyễn Thị T đang đi bộ băng qua đường làm bà T chết tại hiện trường và chị N bị thương sây sát ngoài da (đã có đơn từ chối giám định thương tích). Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm Điều 9, Điều 12 và Điều 260 của Luật giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 13-11-2025 theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay, là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Do đó, đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân; tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thị T, đại diện bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với trình bày của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận một phần, tuy nhiên yêu cầu xem xét cho bị cáo được hưởng án treo là không có cơ sở vì bản thân bị cáo là người không có giấy phép mà còn điều khiển xe tham gia giao thông là hành vi nguy hiểm.

Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Citinew, dung tích 107 cm3, biển số 67T2-4095. Qua điều tra xác định là của Lâm Minh H nên ngày 27-5-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã trả lại xe cho H là đúng quy định. Quá trình điều tra, H khai mua của bà Trương Thị T, bà T khai đã bán xe cho H, không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về vật chứng đồng thời xác định bà Trương Thị T không còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260, Điều 290, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lâm Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. Xử phạt bị cáo Lâm Minh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Áp dụng khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

4. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại Vũ Ngọc Quỳnh N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Mạnh C, ông Nguyễn Quang S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Nơi nhận:

Cỡ chữ