- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quang Q vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quang Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13- HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2026/HS-ST Ngày: 30/3/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13- HẢI PHÒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quý Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hồ Phương;
2. Bà Đoàn Thị Chuyền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Long- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13- Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Thay- Kiểm sát viên.
Ngày 30/3/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Hải Phòng mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2026/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2026/QĐXXST- HS, ngày 04 tháng 03 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2026/QĐST- HS ngày 18/3/2026 đối với bị cáo:
Đỗ Quang Q, sinh ngày 02/9/1980 tại Hải Phòng; Số CCCD: 030080007444; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A X, phường T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Xuân B và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC, ngày 30/7/2013 của Trưởng công an phường T, thành phố Hải Phòng (nay là thành phố Hải Phòng) xử phạt 1.000.000 đồng đến về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác; ngày 30/7/2013 đã nộp tiền phạt (đã được xóa). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2026 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Ông Tạ Văn K (đã chết).
3. Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1946 (vợ bị hại);
- Anh Tạ Văn D, sinh năm 1972 (con đẻ bị hại);
- Chị Tạ Thị T, sinh năm 1979 (con đẻ bị hại);
- Anh Tạ Văn V, sinh năm 1982 (con đẻ bị hại);
Đều có địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng.
- Chị Tạ Thị V1, sinh năm 1974 (con đẻ bị hại)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng.
- Chị Tạ Thị T1, sinh năm 1976 (con đẻ bị hại);
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Tạ Văn D, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường V, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
5. Người làm chứng: Bà Đỗ Thị T2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Quang Q có giấy phép lái xe theo quy định, được anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983 ở Tổ dân phố T, Phường V, thành phố Hải Phòng thuê làm lái xe và giao cho quản lý, sử dụng xe ô tô tải nhãn hiệu Giải Phóng, màu trắng, biển kiểm soát 34C-207.48. Sáng ngày 16/12/2025, Q điều khiển xe ô tô tải trên chở cá từ xã H ra đường T đi hướng xã G, thành phố Hải Phòng; trên xe chở bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1968 ở số B V, Phường T, thành phố Hải Phòng ngồi ở ghế phụ. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô đi đến Km8+600 thuộc địa phận thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng, đi trên phần đường bên phải với tốc độ khoảng 60km/h, đây là đoạn đường bằng phẳng, được trải nhựa asphalt, mặt đường rộng 14,0 mét chia thành hai phần đường bằng vạch sơn nét đứt màu vàng, ký hiệu “vạch 1.1", phần đường bên phải hướng xã H đi xã G rộng 8,68m, phần đường bên trái hướng ngược lại rộng 5,32m. Tại khu vực này, ở lề đường bên phải theo hướng Q đi có đặt biển báo hiệu “Có gồ giảm tốc” (ký hiệu W.221b), cách biển W.221b 50m về phía trước có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên (ký hiệu là W.207d). Lúc này, ông Tạ Văn điều K1 xe đạp điện, nhãn hiệu Nijia màu trắng, không gắn biển kiểm soát đi từ đoạn đường bên phải theo hướng cổng làng K rẽ trái sang đường trục B để đi về xã H (Tại vị trí giao nhau, ở lề đường bên phải theo hướng từ cổng làng K ra đường trục Bắc Nam có đặt biển báo “Giao nhau với đường không ưu tiên” ký hiệu W.208 và có đèn tín hiệu màu vàng, phía dưới đèn có gắn biển “Dừng lại quan sát”). Do buồn ngủ, không chú ý quan sát, không nhìn thấy hệ thống biển báo nguy hiểm và không phát hiện thấy ông K đang điều khiển xe đạp điện sang đường nên Q không giảm tốc độ. Khi xe đạp điện của ông K cách đầu xe ô tô của Q khoảng 2- 3m, Q không kịp xử lý dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô va chạm với thân bên trái của xe đạp điện do ông K điều khiển, làm xe đạp điện bị đổ, ông K bị ngã, người và xe rê trượt kéo dài về phía trước khoảng 40- 50m. Hậu quả ông K đã tử vong tại hiện trường.
Tại Kết luận giám định tử thi số 3982 ngày 19/12/2025 của Phòng K2 - Công an thành phố H: Kết quả chính: Kết mạc hai mắt nhợt; Biến dạng lồng ngực, dấu hiệu tràn khí dưới da vùng ngực. Gãy xương sườn hai bên từ số II đến số X. Chảy máu khoang ngực. Biến dạng cẳng chân phải, gãy 02 xương cẳng chân phải. Chấn thương dập nát cẳng chân trái. Kết luận: Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định số 4164 ngày 29/12/2025 của Phòng K2 - Công an thành phố H, kết luận: Dấu vết trượt xước sơn, nhựa bẩm dính tạp chất màu ghi (dạng sơn) ở mặt ngoài, bên trái ốp nhựa chắn đà phía trước đầu xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-207.48, vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái (ảnh 09, 10 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, kim loại ở mặt ngoài, bên trái chắn bùn bánh sau xe đạp điện, vết có chiều từ trái sang phải, từ vết này làm cho chắn bùn bị cong vênh, biến dạng theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau (ảnh 11, 12 trong bản ảnh giám định); Dấu vết trượt xước sơn, kim loại bám dính tạp chất màu ghi (dạng sơn) ở mặt ngoài, bên trái khung kim loại chắn đà phía trước đầu xe ô tô tải biển kiểm soát 34C- 207.48, vết có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái, từ vết này làm cho đầu khung kim loại chắn đà bị đẩy cong theo chiều từ trước về sau (ảnh 13, 14 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, kim loại bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt ngoài, bên trái khung sườn xe bên trái bảo vệ bình ắc qauy và đỡ yên xe đạp điện, vết có chiều từ trái sang phải, từ vết này làm cho khung sườn xe bị cong vênh, biến dạng theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau (ảnh 15, 16 trong bản ảnh giám định). Không đủ cơ sở để xác định phần đường xảy ra va chạm giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 34C- 207.48 và xe đạp điện.
Tại Kết luận giám định độc chất số 65 ngày 07/01/2026 của V2 - Bộ Y, kết luận: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy trong máu của ông Tạ Văn K.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 19/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND xã T, kết luận: Giá trị thiệt của xe đạp điện nhãn hiệu Nijia, màu sơn trắng, xe đã bị biến dạng, hư hỏng do tai nạn giao thông ngày 16/12/2025, giá trị thiệt hại là: 700.000 đồng. Giá trị thiệt hại của các bộ phận xe ô tô biển kiểm soát 34C-207.48, tại thời điểm ngày 16/12/2025: Ba đờ xốc phía trước, giá trị thiệt hại là: 1.100.000 đồng; Nắp ca bô phía trước, giá trị thiệt hại là 2.100.000 đồng; Tai xe bên trái phía trước bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 1.200.000 đồng; Cụm đèn pha phía trước, bên trái, bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 1.150.000 đồng; Kính chắn gió phía trước, bị vỡ nứt hư hỏng, giá trị thiệt là 1.600.000 đồng; Cần gạt nước phía trước, bên trái bị hư hỏng, giá trị thiệt hại là 250.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các bộ phận của xe ô tô biển kiểm soát 34C- 207.48 tại thời điểm ngày 16/12/2025 là 7.400.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 01/01/2026, Đỗ Quang Q đã thăm hỏi, chia buồn, phúng viếng tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng (bao gồm toàn bộ thiệt hại về tổn thất tinh thần, chi phí lễ tang và các khoản bồi thường khác). Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-KV13 ngày 26/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt VKSND) khu vực 13- Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Quang Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực 13- Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đỗ Quang Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Đỗ Quang Q từ 01(Một) năm 02 (Hai) tháng tù đến 01 (Một) 05 (Năm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng đến 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã phường T3, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Về hình phạt bổ sung: Không; Về trách nhiệm dân sự: Không; Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe số/No: 300056309268 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 30/11/2022; Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, công nhận Quyết định truy tố, luận tội của VKSND khu vực 13- Hải Phòng đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, VKSND khu vực 13- Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Đỗ Quang Q có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 16/12/2025, Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34C-207.48 đi trên trục đường B hướng xã H đi xã G. Khi đến đoạn Km8+600 thuộc địa phận thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng, do buồn ngủ, Q không chú ý quan sát hệ thống biển báo nguy hiểm và không phát hiện ông Tạ Văn K, sinh năm 1949, ở thôn K, xã T, thành phố Hải Phòng đang điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Nijia, màu trắng đi từ cổng làng thôn K rẽ trái sang đường T để đi về hướng xã H nên Q không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe đạp điện do ông K điều khiển. Hậu quả: Ông K tử vong do đa chấn thương, xe đạp điện hư hỏng trị giá thiệt hại 700.000 đồng. Hành vi của bị cáo vi phạm điểm b, d khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hậu quả: Ông K tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. VKSND khu vực 13- Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác; đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay tình hình tai nạn giao thông đường bộ có chiều hướng gia tăng, gây nhiều thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung có hiệu quả.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được xóa tiền sự, không có tiền án, tiền sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong vụ án này, sau khi gây ra tai nạn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, bị hại cũng có một phần lỗi tham gia giao thông đường bộ khi di chuyển từ đường không ưu tiên sang đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho xe ưu tiên dẫn đến bị cáo bất ngờ, không xử lý kịp, dẫn đến va chạm nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, HĐXX sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Căn cứ quy định của pháp luật, sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy, bị hại cũng có lỗi, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 01/01/2026 bị cáo đã thăm hỏi, chia buồn, phúng viếng tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng (bao gồm toàn bộ thiệt hại về tổn thất tinh thần, chi phí lễ tang và các khoản bồi thường khác). Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác. Anh Nguyễn Văn D1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào về chi phí sửa chữa xe ô tô Biển kiểm soát: 34C- 207.48. Do vậy, về trách nhiệm dân sự HĐXX không xem xét, giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H đã trả cho anh Tạ Văn D (người đại diện hợp pháp của bị hại) 01 xe đạp điện nhãn hiệu Nijia. Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Nguyễn Văn D1 01 xe ô tô tải , biển kiểm soát: 34C-207.48. HĐXX không xem xét, giải quyết. Bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại bị cáo Giấy phép lái xe số/No: 300056309268 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 30/11/2022.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác: Đối với ông Tạ Văn K di chuyển từ đường không ưu tiên ra đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Hành vi của ông Tạ Văn K đã vi phạm khoản 1, Điều 22 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Tuy nhiên ông K đã chết nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; điểm d khoản 1 Điều 125; Điều 331; 333 BLTTHS. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quang Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quang Q 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Quang Q cho UBND phường T3, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Q có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T3, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 BLHS. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú với bị cáo Đỗ Quang Q.
3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Quang Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Đỗ Quang Q Giấy phép lái xe số/No: 300056309268 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 30/11/2022 (Tòa án nhân dân khu vực 13- Hải Phòng trả bị cáo Q khi bản án có hiệu lực pháp luật).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/3/2026). Đại diện hợp pháp của bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 13- Hải Phòng; - Cơ quan điều tra- Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS- Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan HS- NV- Công an thành phố Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quý Long |