vanban.org

Bản án 21/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong có 01 (một) gói nhỏ ni lông màu hồng, 01 (một) túi Potylen màu đen, 01 (một) túi Potylen màu tím, số viên nén màu hồng có khối lượng lần lượt là 0,22 gam, 10,98 gam, tổng là 11,2 gam (Mười một phẩy hai gam) cùng với vỏ giấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lầu Bá D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-ST
Ngày 25 tháng 8 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Moong Thái Nhi;

2. Bà Vi Thị Khiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Đ thuộc trại tạm giam Công an tỉnh N, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2026/HS-ST ngày 03 tháng 08 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026, đối với:

Họ và tên: Lầu Bá D - Tên gọi khác: Không; Số CCCD: 040087029530 Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/4/1987 tại xã M, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: Bản M, xã M, tỉnh Nghệ An;

Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lầu Gia L, sinh năm 1954 và bà Vừ Y M, sinh năm 1956; Có vợ là Hờ Y C, sinh năm 1989 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2015;

Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt từ ngày 20/5/2026 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ, Công an tỉnh N. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T - Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm T2, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người chứng kiến: Anh Xồng Bá T1; sinh năm 1988; nơi cư trú: Bản M, xã M, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00, ngày 16/5/2026, Lầu Bá D đi xe máy đến khu vực bản Mường Lống, xã T, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, sau khi dò hỏi, Lầu Bá D gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch) 01 túi Potylen màu đen bên trong chứa nhiều viên ma túy màu hồng với giá 1.300.000đ (một triệu ba trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma tuý, Lầu Bá D đi về nhà khi về nhà và mở ra đếm thấy có 120 (một trăm hai mươi) viên ma tuý, Lầu Bá D lấy 02 (hai) viên ra sử dụng bằng cách đốt để hút ngay tại nhà của mình, số còn lại thì cất giấu tại khu vực bếp ăn của gia đình nhằm mục đích để sử dụng dần.

Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 20/05/2026, Lầu B Dìa lấy ra 03 (ba) viên ma túy dấu vào dưới yên xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đen đỏ, mang biển kiểm soát 37K1–159.17 rồi điều khiển xe máy đi vào rẫy mục đích quá trình bẫy chuột sẽ sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 20/5/2026, khi Lầu Bá D đi đến khu vực bản L, xã M, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng N Chỉ huy đồng chủ trì với Công an xã M, cùng phối hợp với Phòng nghiệp vụ/Bộ đội Biên phòng tỉnh N và Công an xã N, tỉnh Nghệ An yêu cầu dừng xe, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 03 viên nén màu hồng (nghi là ma tuý) cùng chiếc xe máy biển kiểm soát 37K1-159.17 mà Lầu Bá D đang điều khiển. Cùng ngày, tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lầu Bá D. Quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ tại khu vực bếp ăn của gia đình Lầu Bá D 01 túi Potylen màu đen bên trong chứa 115 (một trăm mười lăm) viên nén màu hồng (nghi là ma tuý). Lầu Bá D khai nhận đó là ma tuý hồng phiến mua về để sử dụng.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định tình trạng sử dụng ma túy của Lầu Bá Dìa ngày 20/5/2026 cho kết quả: Lầu Bá D dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine và M1.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại được lập vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 21/05/2026 của Hội đồng mở niên phong Phòng K Công an tỉnh N, xác định:

- 03 (ba) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Lầu Bá D, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,32g (không phẩy ba mươi hai gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 01 (một) viên nén màu hồng, có khối lượng là 0,1 gam (ký hiệu mẫu là M1) để gửi đi giám định.

- 115 (một trăm mười lăm) viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Lầu Bá D, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 11,98g (mười một phẩy chín mươi tám gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 10 (mười) viên nén màu hồng, có khối lượng là 01 gam (ký hiệu mẫu là M2) để gửi đi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 416/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 25 tháng 05 năm 2026 của Phòng K, Công an tỉnh N, kết luận: Các mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Lầu Bá Dìa gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lầu Bá Dìa có tổng khối lượng là 12,30 gam.

Cáo trạng số: 08/CT-VKSKV12 ngày 31/07/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Nghệ An đã truy tố bị cáo Lầu Bá D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025 để xử phạt bị cáo Lầu Bá D mức án từ 06 năm 06 tháng (Sáu năm sáu tháng) đến 07 năm (B1 năm) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật chứng có khối lượng còn lại là 11,2 gam Methamphetamine cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu; Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 (Một ) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-159.17, thu giữ của Lầu B khi bắt quả tang; về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Lầu Bá D đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày ngày 20/5/2026, tại khu vực bản L, xã M, tỉnh Nghệ An bị cáo Lầu Bá D bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,32 gam ma túy Methamphetamine, khám xét khẩn cấp nơi ở của Lầu Bá D thu giữ thêm 11,98 gam ma túy Methamphetamine cất dấu tại khu vực bếp ăn, Lầu Bá D thừ nhận mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng. Tổng khối lượng chất ma tuý mà Lầu Bá D tàng trữ để sử dụng trong vụ án này là 12,30 gam (Mười hai phẩy ba mươi gam) Methamphetamine. Hành vi đó của bị cáo Lầu Bá D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lầu Bá D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng mà không có mục đích lợi nhuận nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về các đối tượng liên quan: Trong vụ án này có đối tượng đã bán ma túy cho Lầu Bá D, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, danh tính, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tgra đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nao có kết quả sẽ được xử lý.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với khối lượng ma túy đã thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu gửi giám định thì số còn lại là 11,2 gam Methamphetamine, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 (Một ) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-159.17 mà bị cáo Lầu Bá D đã sử dụng đi mua và cất dấu ma túy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên phải tịch thu bán hóa giá để sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vì vậy thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Lầu Bá D 07 năm (Bảy năm) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 20/05/2026).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong có 01 (một) gói nhỏ ni lông màu hồng, 01 (một) túi Potylen màu đen, 01 (một) túi Potylen màu tím, số viên nén màu hồng có khối lượng lần lượt là 0,22 gam, 10,98 gam, tổng là 11,2 gam (Mười một phẩy hai gam) cùng với vỏ giấy niêm phong ban đầu. Trên mép dán niêm phong co đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và có hình dấu của Đồn Biên phòng N1, BĐBP tỉnh N.

- Tịch thu bán hóa giá để sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một ) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 37K1-159.17. Số khung: RLCUE3740LY033676, số máy: E32VE00828 theo giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 012902 do Công an huyện K, tỉnh Nghệ An cấp ngày 24/02/2020.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh N theo phiếu nhập kho vật chứng và tài liệu, đồ vật số 350 ngày 05/06/2026.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lầu Bá D.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2026)./.

Cỡ chữ