vanban.org

Bản án 21/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ Điều 38, điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Lại Thế N 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 14 tháng 8 năm 2025 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-ST
Ngày 22 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh – Bà Nguyễn Thị Kim Lý.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Quang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Lại Thế N; tên gọi khác: không; sinh ngày 21 tháng 3 năm 1971 tại Lào Cai; giới tính: Nam; căn cước công dân số: 015071001261; nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH Bộ C; nơi thường trú: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai; nơi ở trước khi bị bắt: Thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lại Thế B (đã chết) và bà Trần Thị B1; có vợ là Đào Thị M và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2017/HSST ngày 13/4/2001 Toà án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Lại Thế N 24 tháng tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý” (đã được xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 8 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh L. Có mặt.

* Người có qyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Ninh Thị Tuyết L, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai ; vắng mặt.

+ Chị Đinh Thị Như H, sinh năm 1974; địa chỉ:Tổ dân phố H, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.

+ Anh Cao Việt H1, sinh năm 1982; địa chỉ: C lô M khu P khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

* Người chứng kiến: Anh Đỗ Xuân H2, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lại Thế N là đối tượng sử dụng chất ma túy. Vào ngày 10 tháng 8 năm 2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý Ninh một mình đi vào khu vực đường dân sinh cách Cầu Thia khoảng 01 km; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai để mua ma tuý (Heroine, Hồng phiến và Đ) để sử dụng. Tại đây, N đã gặp một người đàn ông (người dân tộc Thái) khoảng 40 – 50 tuổi giới thiệu tên là N1 ( N không quen biết, không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể) mua được 05 viên ma tuý tổng hợp Hồng phiến, 02 gói Heroine và 07 gói ma tuý tổng hợp dạng “Đá” với giá 4.500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, N mang về nhà, đến trưa ngày 13/8/2025, N lấy ra sử dụng hết 01 viên ma tuý tổng hợp Hồng P và 01 túi ma tuý tổng hợp dạng “Đá” cho bản thân tại vị trí buồng vệ sinh nhà ở của N. Số ma tuý còn lại N chia 02 gói ma tuý Heroine thành 03 gói nhỏ; 04 viên ma tuý tổng hợp Hồng P và 06 túi ma tuý tổng hợp dạng “Đá” Ninh cất giấu trên hộc cánh cửa phía bên lái và hộc phía sau cần số của ô tô nhãn hiệu Mercedes BKS 30Z – 8808 với mục đích để sử dụng cho bản thân, Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/8/2025, N điều khiển xe ô tô Mercedes BKS 30Z – 8808 lưu thông trên đường H thuộc tổ dân phố H phường Â, tỉnh Lào Cai thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ:

+ Tại hộc cánh cửa phía bên lái của xe ô tô Mercedes BKS 30Z – 8808: 01 túi nilon (loại vỏ xi lanh) được hàn kín hai đầu bên trong có: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain, 01 túi nilon màu trắng là ma tuý Heroine và 02 túi nilon được hàn kín bên trong có ma tuý Heroine.

+ Tại hộc phía sau cần số của ô tô nhãn hiệu Mercedes BKS 30Z – 8808: 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền đỏ chứa 04 viên nén màu hồng là ma tuý tổng hợp (Hồng phiến); 06 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền đỏ có chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý tổng hợp dạng “Đá” (Trong đó: 02 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ; 02 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ bên ngoài cuốn bằng dây cao su màu vàng; 02 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ bên ngaoì cuốn bằng dây cao su màu nâu).

+ 02 (hai) chiếc điện thoại (trong đó 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu oppo)

+ 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes BKS 30Z – 8808; số tiền 7.250.000 đồng ( Bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 14 tháng 8 năm 2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thi hành lệnh khám xét chỗ ở, đồ vật của Lại Thế N tại thôn C và thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai: Không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật tài sản gì.

Tại biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định hồi 22 giờ ngày 13/8/2025 tại Phòng K Công an tỉnh L xác định:

+ Khối lượng ma tuý Heroine thu giữ tại hộc cửa phía sau bên lái của xe ô tô Mercedes BKS 30Z – 8808, khi bắt quả tang Lại Thế N là 0,84 gam (ký hiệu M1).

+ Khối lượng ma tuý Methamphetamine - ma tuý tổng hợp hồng phiến (ngựa): 0,4 gam (ký hiệu M2); khối lượng ma tuý Methamphetamine (ma tuý tổng hợp dạng “Đá” 4,35 gam được thu giữ tại hộp cần số của xe ô tô Mercedes BKS 30Z – 8808 khi bắt quả tang Lại Thế N là 4,35 gam (ký hiệu M3).

* Tại bản kết luận giám định số: 424/KL-KTHS, ngày 20 tháng 8 năm 2025 của phòng K, Công an tỉnh L kết luận:

1. Chất bột nén màu trắng niêm phong trong phong bì thứ nhất, ký hiệu là M1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,84 gam.

2. Các viên nén màu hồng trong phong bì thứ hai, ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,4 gam.

3. Chất tinh thể màu trắng trong phong bì thứ hai, ký hiệu là M3 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 4,35 gam.

Bản kết luận giám định số 432/Kl-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luân: 08 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng; 14 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng gửi đi giám định đều là tiền thật. Tổng số tiền gửi giám định là 7.250.000 đồng ( Bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Cáo trạng số 41/CT-VKS-KV1 ngày 12 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai truy tố Lại Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Thế N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) đề nghị xử phạt bị cáo Lại Thế N từ: 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14 tháng 8 năm 2025

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 0,74 gam ma tuý loại Heroine; 0,3 gam ma tuý loại Methamphetamine (Hồng phiến); 4,25 gam ma tuý loại Methamphetamine (Đá) (sau khi lấy mẫu giám định) được niêm phong trong một phong bì niêm phong vật chứng của Phòng K Công an tỉnh L phát hành.

+ 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, nilon gói; 02 dây cao su màu vàng và màu nâu; 01 xi lanh, 01 ống thuỷ tinh chứa dung dịch trong suốt có chữ (NOVOCAIN HD).

- Trả lại cho Lại Thế N:

+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0868.125.509 và 0911.168. 418;

+ Số tiền 7.250.000 đồng (Bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)

Về án phí: Áp dụng Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 4,75 (bốn phảy bẩy mươi lăm) gam ma túy loại Methamphetamine và 0,84 (không phẩy tám mươi tư) gam ma tuý Heroine. Tổng cộng 5,59 (năm phẩy năm mươi chín) gam ma tuý (Heroine và M1) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Lại Thế N tại khu vực tổ dân phố H, phường Â, tỉnh Lào Cai đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, đây là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội.

Về nhân thân, bị cáo Lại Thế N có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân ngày 13 tháng 4 năm 2001 bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 24 tháng về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lại Thế N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng II, mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy; không có việc làm, tài sản, thu nhập; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về nguồn gốc số ma túy 5,59 gam (Methamphetamine, Heroine) thu giữ của Lại Thế N, bị cáo N khai mua của một người đàn ông dân tộc T không quen biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường D khoảng 01 km ở tổ dân phố B, phường C, tỉnh Lào Cai nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Các vấn đề khác.

- Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lại Thế Ninh vào trưa ngày 13/8/2025 tại buồng vệ sinh nhà ở của N tại thôn C, xã T, tỉnh Lào Cai. Xét thấy, hành vi đó không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) nên Cơ quan ảnh sát điều tra Công an tỉnh L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0003359/QĐXPHC ngày 04/9/2025 đối với Lại Thế N bằng hìnhthức phạt tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

- Tại thời điểm Công an phường Â, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang Lại Thế N còn phát hiện một nam thanh niên là Đỗ Xuân H2 đang có hành vi thò tay qua cửa kính bên phải của xe ô tô Mercedes C 250 BKS 30Z – 8808 do N điều khiển. Qua kiểm tra xác định H2 đã thả ống nhựa trắng bên trong có chứa chất ma tuý Heroine vào vị trí hộc bên phải của xe ô tô Mercedes BKS 30Z – 8808 do N điều khiển. H2 khai số ma tuý trên là của H2 tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Qua đấu tranh N khai không biết và không liên quan đến ma tuý Heroine của H2 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm đối với H2 trong vụ án này. Hiện tại Đỗ Xuân H2 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 256a Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C 250 BKS 30Z – 8808; Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Ninh Thị Tuyết L chiếc xe ô tô trên được Ninh mượn của chị L để đi lại. Tại thời điểm N thực hiện hành vi phạm tội thì chị L không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N. Nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm đối với chị L và trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C 250 BKS 30Z – 8808 cho chị L là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone đã qua sử dụng lắp sim số 0987 337 750. Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Đinh Thị Như H, chiếc điện thoại này N mượn của chị H và chị H không liên quan đến hành vi phạm tội của N nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị H là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 0,84 gam ma tuý loại Heroine thu giữ của Lại Thế N. Cơ quan giám định đã trích 0,1 gam còn lại 0, 74 gam ma tuý loại Heroine được cho vào túi nilon màu trắng ghi số (1); 0,4 gam ma túy loại Methamphetamine (Hồng phiến) thu giữ của Lại Thế N. Cơ quan giám định đã trích 0,1 gam còn lại 0,3 gam ma tuý loại Methamphetamine; được cho vào túi nilon màu trắng ghi số (2); 4,35 gam ma túy loại Methamphetamine (Đá) thu giữ của Lại Thế N. Cơ quan giám định đã trích 0,1 gam còn lại 4,25 gam ma tuý loại Methamphetamine; được cho vào túi nilon màu trắng ghi số (3). Ba túi ni lon đánh số (1), (2), (3) được niêm phong trong một phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong và giấy gói; 02 dây cao su màu vàng và màu nâu; 01 xi lanh, 01 ống thuỷ tinh chứa dung dịch trong suốt có chữ (NOVOCAIN) không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0868.125.509 và 0911.168. 418 và số tiền 7.250.000 đồng của Lại Thế N không liên quan đến hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý của N nên trả lại cho Lại Thế N.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ Điều 38, điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Lại Thế N 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt 14 tháng 8 năm 2025

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,74 gam ma tuý loại Heroine; 0,3 gam ma tuý loại Methamphetamine (Hồng phiến); 4,25 gam ma tuý loại Methamphetamine (Đá) được niêm phong trong một phong bì niêm phong vật chứng của Phòng K Công an tỉnh L phát hành mặt trước phong bì có ghi “ Vật chứng thu giữ của Lại Thế N khi bắt quả tang tại tổ dân phố H, phường Â, tỉnh Lào Cai ngày 13/8/2025 (sau khi trích mẫu giám định) mặt sau phong bì các mép đều được dán kín, có họ tên chữ ký của Trần Văn H3, Nguyễn Quang H4, Nguyễn Đức P1, Lại Thế N và các dấu hình tròn đỏ.

+ 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, nilon gói; 02 dây cao su màu vàng và màu nâu; 01 xi lanh; 01 ống thuỷ tinh chứa dung dịch trong suốt có chữ (NOVOCAIN HD).

3.2 Trả lại cho Lại Thế N:

+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh đã qua sử dụng, lắp sim số 0868.125.509 và 0911.168. 418;

+ Số tiền 7.250.000 đồng (Bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại Phòng cục thi hành án dân sự khu vực 1 - Lào Cai)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lại Thế N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ