- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Quốc A Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN U V -ĐẮ LẮ ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2026/HS-ST Ngày 29/01/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚ ỘNG OÀ XÃ ỘI Ủ NG ĨA VIỆT NAM
TOÀ N N N N U V
- ĐẮ LẮ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: ng Phạm Cảm và ông Trần Văn Châu.
- Thư ký phiên toà: ng Hoàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk.
- i di n Vi n ki m s t nhân dân khu v c - ắk Lắk tham gia phiên toà: ng Lê Minh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Lê Văn Quốc A (tên gọi khác: không có); Sinh ngày 01 tháng 7 năm 2006, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Xóm B, thôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Văn Quốc T; sinh năm 1983 và con bà Liêu Thị H; sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/10/2025 cho đến nay – Có mặt.
- Ng i h i: Ông Ngô Đình T1, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Số G A, phường B, tỉnh Đắk Lắk (đã chết).
Ng i i di n h p pháp cho ng i h i: Ông Ngô Đình T2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số G A, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ng i có quy n l i ngh a v liên quan: Bà Liêu Thị H, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk
NỘI UNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 05/8/2025, Lê Văn Quốc A1 có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 09/8/2024 điều khiển xe mô tô biển số 47L1-351.61 đi từ xã E, tỉnh Đắk Lắk để đến phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, A điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường tỉnh lộ 2 thuộc thôn B, xã H, tỉnh Đắk Lắk hướng di chuyển từ xã K đi đường H, với vận tốc 55km/h thì có một xe ô tô tải không rõ biển số có bật đèn chiếu sáng phía trước đi đến theo chiều ngược lại theo chiều đi của A, do ánh đèn của xe ô tô tải rọi vào khiến A bị chói mắt, tuy nhiên A vẫn điều khiển xe mô tô di chuyển ở bên phải theo chiều đi với tốc độ như trên. Cùng lúc đó, có ông Ngô Đình T1 đang đi bộ trên đoạn đường trên theo hướng xã K đi đường H. Sau khi xe mô tô 47L1-351.61 và xe ô tô tải trên đi qua nhau khoảng 2-3m, thì A phát hiện phía trước cách 2m có ông Ngô Đình T1 đi bộ cùng chiều ở chiều đường bên phải theo hướng di chuyển của A. Do khoảng cách gần nên A đã không kịp xử lý dẫn đến phía trước xe 47L1-351.61 tông trúng phía sau người ông T1, dẫn đến ông T1 bị văng về phía trước và ngã nằm trên mặt đường, xe mô tô 47L1-351.61 loạng choạng di chuyển thêm khoảng 01 mét thì ngã nghiêng bên phải trượt trên mặt đường theo hướng di chuyển, đầu xe quay về phía đường H, Lê Văn Quốc A bị ngã trượt trên mặt đường. Hậu quả: ông Ngô Đình T1 tử vong tại chỗ, Lê Văn Quốc A bị thương nhẹ, xe mô tô 47L1-351.61 hư hỏng nhẹ. Sau khi tai nạn xảy ra, người dân xung quanh đến kiểm tra, giúp đỡ những người bị nạn.
- Tại bản Kết luận giám định tử thi số 402/KLGĐTT-KTHS ngày 06/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Nguyên nhân tử vong của ông Ngô Đình T1 là: Chấn thương sọ não nặng.
Các thương tích trên cơ thể nạn nhân phù hợp với cơ chế hình thành thương tích do tai nạn giao thông gây ra.
- Tại bản Kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đối với các mẫu thu giữ của tử thi Ngô Đình T1 kết luận:
Tìm thấy trong mẫu máu được niêm phong gửi giám định có Ethanol (cồn), nồng độ Ethanol (cồn) là 283,753/100ml máu.
Không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy trong mẫu nước tiểu được niêm phong gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 498/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
“Tập tin video (Kí hiệu: A):
Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Trích xuất được hình ảnh mô tả diễn biến, hành vi vào bản ảnh giám định, thời gian từ 19:14:07 đến 19:14:32 ngày 05/8/2025 (theo thời gian hiển thị trong video)” (Bút lục: 87-94)
- Tại bản Kết luận giám định số 752/KL-KTHS ngày 30/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Không đủ cơ sở xác định dấu vết va chạm giữa xe mô biển số 47L1-351.61 và ông Ngô Đình T1 (Bút lục: 109).
Tại phiếu kết quả xét nghiệm đối với Lê Văn Quốc A tại Bệnh viên đa khoa B hồi 23:52 ngày 05/8/2025 đối với các xét nghiệm “Định tính Amphetamine (test nhanh) [niệu]”, “Định tính Marijuana (THC) (test nhanh) [niệu]”, “Định tính Morphin (test nhanh) [niệu]”, kết quả các xét nghiệm trên: “Âm tính”;
Tại phiếu kết quả xét nghiệm đối với Lê Văn Quốc A tại Bệnh viên đa khoa B hồi 23:53 ngày 05/8/2025 đối với xét nghiệm “Định lượng Ethanol (cồn) [Máu]”, kết quả: “Không phản ứng với cồn”.
- Hiện trường xảy ra vụ việc tại đường T, thuộc thôn B, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn rộng 8,0m được trải nhựa bằng phẳng, thẳng theo hướng T - Đ (hướng T đi xã K, hướng Đ đi đường H), ở giữa đường có vạch sơn đơn màu vàng không liền nét phân chia đoạn đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, chiều đường phía Đông Nam rộng 4,0m, chiều đường phía T rộng 4,0m. Đoạn đường nơi xảy ra vụ việc không có chướng ngại vật, hai bên đường không có đèn đường. Tại lề đường bên trong mép đường Đ, cách mép đường 1,0m có 01 biển cảnh báo W.207a theo (QCVN 41:2024/BGTVT)
- Tại lòng đường nhựa ghi nhận 01 chiếc dép (bên phải) màu đen hiệu “fashion” cách mép đường phía Đông Nam (mép chuẩn) 1,7m, cách mốc cố định (trụ điện số N9-1,1T69 nằm bên trong mép đường Đ, cách mép đường 5,5m) là 8,9m (vị trí số 1)
- Cách vị trí số 01 về phía Bắc 7,9m, cách mép đường chuẩn 4,15m ghi nhận 01 chiếc dép (bên trái) màu đen hiệu “fashion” (vị trí số 2)
- Cách vị trí số 01 là 2,3m về phía Đông Bắc ghi nhận 02 vết ma sát, cày xước mặt đường song song cách nhau 0,35m, chiều rộng mỗi vết là 1cm. T2 đầu 02 vết này cách mép đường phía Đông Nam 1,5m. Vết kéo dài 20m về phía Đông Bắc, điểm cuối vết này là vị trí tiếp giáp gác chân sau và tay thắng bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 47L1-351.61 (vị trí số 3)
- Tại khu vực cuối vết 3 có 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L1-351.61 nằm trên mặt đường, xe ngã về bên phải, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng Tây. T2 trục bánh sau cách mép đường phía Đông Nam 2,47m. T2 trục bánh trước cách mép đường phía Đông Nam 1,65m (vị trí số 4)
- 01 tử thi nam giới nằm ngửa, đầu quay về bên trái, 2 tay đặt trên bụng, chân phải duỗi thẳng, chân trái co, mặc áo màu xanh, quần jean. Đầu tử thi cách mép đường Đông Nam 4,04m, cách tâm trục sau xe mô tô 5,5m, cách vị trí số 1 là 17,2m. Gót chân (P) cách mép đường Đ 5,18m. Tại vị trí sát đầu tử thi là 01 vũng máu dạng đọng kích thước (0,8 x 0,5)m (vị trí số 5)
- Cách vị trí số 1 về hướng Bắc 5,1m, cách mép đường Đông Nam 3,75m là tâm vùng mảnh vỡ kích thước (3,4 x 0,7)m vị trí số 6
- Vị trí va chạm: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xác định hướng di chuyển của xe 47L1-351.61 là trên đường T theo hướng xã K đi đường H, xe di chuyển ở chiều đường bên phải theo chiều đi. Hướng di chuyển của ông Ngô Đình T1 là đi bộ trên đường T theo hướng từ xã K đi đường H, đi ở chiều đường bên phải theo chiều đi. Vị trí va chạm được xác định giữa xe 47L1-351.61 và ông Ngô Đình T1 tương ứng với mặt đường tỉnh lộ 2 cách mép đường chuẩn 1,70m, cách mốc cố định 8,40m, cách biển cảnh báo W.207a 5,40m, cách vị trí số (1) 1,10m.
Cáo trạng số: 60/CT-VKS-BMT ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Lê Văn Quốc A về tội “Vi ph m quy nh v tham gia giao thông
ng ộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Người đại diện cho người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời đề cập các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Quốc A phạm tội“Vi ph m quy nh v tham gia giao thông
ng ộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 BLHS, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Lê Văn Quốc A mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Giấy giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 670245008161 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 09/8/2024, có giá trị đến: Không thời hạn mang tên Lê Văn Quốc A. Vào ngày 05/8/2025 khi bị tai nạn giấy phép lái xe mô tô bị thất lạc không tìm thấy nên không đề cập xử lý
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong.
Bị cáo không tranh luận gì thêm và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
N ẬN ĐỊN ỦA TÒA N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và khiếu nại về hành vi của những người tiến hành tố tụng, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề có mặt.
[3] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 05/8/2025, Lê Văn Quốc A (đã có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 47L1- 351.61 tham gia giao thông không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong trường hợp tầm nhìn bị hạn chế, khả năng lái xe bị ảnh hưởng (có đèn xe ô tô đi ngược chiều chiếu đến), có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm là biển báo W.207a nên đã để phía trước xe mô tô 47L1-351.61 va chạm với phía sau ông Ngô Đình T1 đang đi bộ cùng chiều phía trước dưới lòng đường, hậu quả làm ông T1 tử vong tại chỗ. Hành vi của Lê Văn Quốc A đã vi phạm quy định tại khoản 28, Điều 9 và khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả làm chết 01 người.
Hành vi của bị cáo Lê Văn Quốc A bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố về tội “Vi ph m quy nh v tham gia giao thông
ng ộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ pháp luật.
i m a khoản iều 260 Bộ luật Hình s năm 20 5 quy định:
“1. Ng i nào tham gia giao thông
ng ộ mà vi ph m quy nh v an toàn giao thông
ng ộ gây thi t h i cho ng i khác thuộc một trong các tr ng h p sau ây, thì ph t ti n từ 30.000.000 ồng ến 100.000.000 ồng, ph t cải t o không giam giữ ến 03 năm hoặc ph t tù từ 01 năm ến 05 năm:
a)
Làm chết ng i
………………….’’.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; được người đại diện hợp pháp của người bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hơn nữa một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[5] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do chủ quan, cẩu thả, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái đã vô ý xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng do đó cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Xét bị cáo Lê Văn Quốc A có nơi cư trú ổn định, nhân thân tốt, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01/2022/ NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung Nghị quyết02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và sự phối hợp của gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích và không gây nguy hiểm cho xã hội; không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
+ Ngày 05/8/2025 bà Liêu Thị H cho bị cáo An mượn để sử dụng, không biết việc gấy tai nạn và là lỗi vô ý nên ngày 08/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý vật chứn trả 01 xe mô tô nêu trên cùng với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô bà Liêu Thị H1 phù hợp.
Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 670245008161 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 09/8/2024, có giá trị đến: Không thời hạn mang tên Lê Văn Quốc A. Vào ngày 05/8/2025 khi bị tai nạn giấy phép lái xe mô tô bị thất lạc không tìm thấy nên không đề cập xử lý là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra sự việc, gia đình Lê Văn Quốc A đã thăm hỏi, hỗ trợ cho gia đình người bị hại số tiền 35.000.000 đồng. Người đại diện cho người bị hại là ông Ngô Đình T2 nhận số tiền trên và làm đơn xin bãi nại cho bị cáo đồng thời không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊN :
V ộ d nh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Quốc A phạm tội “Vi ph m quy nh v tham gia giao thông
ng ộ ”.
V
u luậ p d n
h nh phạ :
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn Quốc A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn Quốc A cho UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
V
ch nh
d n ự:
- Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 35.000.000 đồng; Người đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
4 V xử lý ậ chứn : Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô biển số: 47L1-351.61 bà Liêu Thị H là chủ sở hữu hợp pháp
5 V n phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn Quốc A phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm bị cáo, người đại diện cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 1 - Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Phòng PV06-CA tỉnh Đắk Lắk ; - Bị cáo; Người liên quan; người đại diện cho bị hại; - UBND nơi bị cáo cư trú. - Lưu hồ sơ. | TM ỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ T ẨM T ẨM P N - Ủ TỌA P IÊN TÒA NGUYỄN T Ị ỒNG T AN |