vanban.org

Bản án 21/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Trương Văn Đ.

Về con chung: bà H và ông Đ có 04 người con chung tên Trương Thị Mộng N, sinh ngày 19/6/2002, Trương Thị Thanh V, sinh ngày 18/5/2004, Trương Huân B, sinh ngày 03/7/2006, Trương Nguyễn Khắc H1, sinh ngày 08/3/2008. Cháu N, V, B đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn, bà H được quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Trương Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 02-02-2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thúy Bắc

2. Bà Bùi Thị Tuyết Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số B V, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nay là số 247X/41 V, khu phố G, Phường C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ liên lạc: Số B, ấp P, xã V, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1977;

Địa chỉ Số A, ấp P, xã V, tỉnh Vĩnh Long.

Bà H có mặt, ông Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/9/2025, văn bản trình bày ý kiến ngày 15/12/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 30 tháng 9 năm 2002, bà H và ông Đ có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian. Đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà H và ông Đời S ly thân từ năm 2022 đến nay.

Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Đ. Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà H và ông Đ có 04 người con chung tên Trương Thị Mộng N, sinh ngày 19/6/2002, Trương Thị Thanh V, sinh ngày 18/5/2004, Trương Huân B, sinh ngày 03/7/2006, Trương Nguyễn Khắc H1, sinh ngày 08/3/2008. Cháu N, V, B đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Cháu H1 đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cháu H1, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn ông Trương Văn Đ đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy mời của Toà án và đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng ông Đ vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có phần trình bày của ông Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: áp dụng các Điều 21, 28, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Đề nghị Hội đồng xét xử: : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trương Văn Đ.

Về con chung: bà H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Trương Nguyễn Khắc H1, sinh ngày 08/3/2008; ghi nhận bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung tên Trương Nguyễn Khắc H1. Đối với 03 người con chung tên Trương Thị Mộng N, sinh ngày 19/6/2002, Trương Thị Thanh V, sinh ngày 18/5/2004, Trương Huân B, sinh ngày 03/7/2006 đã đủ tuổi trưởng thành, có khả năng lao động, bà H không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: bà H trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: nguyên đơn chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn ông Trương Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà H và ông Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long vào năm 2002. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà H cho rằng sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà H xác định đã không còn tình cảm với ông Đ nên xin được ly hôn với ông Đ. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “... Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà H và ông Đ đã có xảy ra mâu thuẫn, gia đình không còn hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn. Đối với ông Đ, từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải cho ông Đ nhưng ông Đ vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua đó cũng thể hiện việc ông Đ không mong muốn được hòa giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông Đ đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà H và ông Đ có 04 người con chung tên Trương Thị Mộng N, sinh ngày 19/6/2002, Trương Thị Thanh V, sinh ngày 18/5/2004, Trương Huân B, sinh ngày 03/7/2006, Trương Nguyễn Khắc H1, sinh ngày 08/3/2008. Cháu N, V, B đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Cháu H1 đang sống cùng bà H, sau khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cháu H1, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Đ vắng mặt nên không có ý kiến về con chung tên Trương Nguyễn Khắc H1. Trong khi cháu H1 có nguyện vọng sống cùng bà H. Điều này cũng phù hợp biên bản xác minh của Tòa án ngày 30/12/2025 tại địa phương thể hiện ông Đ hiện nay đi làm xa, lâu lâu mới về nhà. Do đó, để đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần của con chung cần giao người con chung tên Trương Nguyễn Khắc H1 cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi người con chung tên Trương Nguyễn Khắc H1.

Về tài sản chung: tại phiên tòa bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H đối với ông Trương Văn Đ. Bà H được ly hôn với ông Đ. Ghi nhận việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

2. Về con chung: bà H và ông Đ có 04 người con chung tên Trương Thị Mộng N, sinh ngày 19/6/2002, Trương Thị Thanh V, sinh ngày 18/5/2004, Trương Huân B, sinh ngày 03/7/2006, Trương Nguyễn Khắc H1, sinh ngày 08/3/2008. Cháu N, V, B đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn, bà H được quyền trực tiếp nuôi cháu H1, ghi nhận bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho cháu H1.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: bà H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà H phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010737 ngày 28/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà H đã nộp đủ án phí. 6. Về quyền kháng cáo: Bà H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ