- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị T-Trần Văn Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2026/HNGĐ-ST Ngày: 26/02/2026 " “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thương và ông Nguyễn Văn Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên
Ngày 26/02/2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 218/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 21/01/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2026 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1978; Địa chỉ: tổ 1, khu Cẩm H, phường Yên T, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Q; sinh năm: 1976; Địa chỉ: tổ 1, khu Cẩm H, phường Yên T, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 03/11/2025, lời khai tại các buổi làm việc tại Tòa án, bà Ngô Thị T trình bày: Bà Ngô Thị T và ông Trần Văn Q kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Cẩm La, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống giữa bà T và ông Q không hợp nhau nên có ở gần cũng thường xuyên bất đồng, cãi cọ. Dù hai bên gia đình đã nói chuyện, khuyên giải nhiều lần nhưng ông Q không bàu thay đổi bản thân, hai vợ chồng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung. Càng ngày cuộc sống chung càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Bà T và ông Q đã sống ly thân từ lâu. Bà T nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà T đề nghị Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Q .
-Về con chung: Bà T và ông Q hai con chung là Trần Minh Quân, sinh ngày 26/12/2001 (đã trưởng thành) và cháu Trần Thị Hồng Quyên, sinh ngày 16/02/2008. Vào thời điểm bà T gửi đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án thì cháu Trần Thị Hồng Quyên chưa đủ 18 tuổi, bà T có nguyện vọng được nuôi con chung là Trần Thị Hồng Quyên và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà T không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về tài sản.
Đối với bị đơn là ông Trần Văn Q: Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã triệu tập hợp lệ ông Q nhiều lần nhưng ông Q không đến Toà án để giải quyết vụ án nên không biết rõ được quan điểm của ông Q về việc giải quyết vụ án.
Tại biên bản xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và nguyện vọng của các con chung: Bà Đinh Thị Thanh, khu trưởng Khu Cẩm Hồng, phường Yên tử, tỉnh Quảng Ninh cũng xác nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa bà T và ông Q đúng như bà T đã trình bày. Nếu bà T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Bà Đinh Thị Thanh cũng cho biết bà T và ông Q có một con chung là Trần Thị Hồng Quyên, sinh ngày 16/02/2008. Hiện cả cháu Quyên cũng đã lớn và đang ở cùng với mẹ. Đề nghị Tòa án xem xét theo nguyện vọng của con chung và theo quy định pháp luật để đảm bảo cho cuộc sống ổn định của cháu Quyên sau này.
Các biên bản tống đạt của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Quảng Ninh đã được Cơ quan Thừa phát lại tống đạt trực tiếp cho con trai ông Trần Văn Q là anh Trần Minh Quân, ở cùng địa chỉ. Anh Trần Minh Quân đã cam kết giao văn bản tận tay cho bố đẻ là ông Trần Văn Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn vắng mặt hai lần tại phiên tòa không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho bà T được ly hôn ông Q;
+ Về con chung: Các con chung đều đã thành niên, đủ 18 tuổi nên không đề nghị giải quyết.
+ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có địa chỉ tại Khu vực 2 - Quảng Ninh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại khoản 1 điều 28, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn bà Ngô Thị T có đơn xin xử án vắng mặt. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
.Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định bà Ngô Thị T và ông Trần Văn Q đủ điều kiện kết hôn và tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Cẩm La, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh) năm 2001. Bà T có yêu cầu xin ly hôn với ông Q bởi bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân đã lâu. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống. Dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Hai vợ chồng không còn quan tâm,chăm sóc và trách nhiệm với nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng của bà T và ông Q không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T là có cơ sở phù hợp với qui định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
.Về con chung: Bà Ngô Thị T và ông Trần Văn Q có hai con chung là Trần Minh Quân, sinh ngày 26/12/2001 (đã trưởng thành) và cháu Trần Thị Hồng Quyên, sinh ngày 16/02/2008. Tại thời điểm Tòa án xét xử vụ án ngày 26/02/2026, cháu Trần Thị Hồng Quyên đã thành niên đủ 18 tuổi nên theo quy định pháp luật, HĐXX không xem xét giải quyết yêu cầu về tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của bà Ngô Thị T. Tại biên bản xác minh ngày 22/12/2025, bà Đinh Thị Thanh, khu trưởng Khu Cẩm Hồng, phường Yên tử, tỉnh Quảng Ninh cũng xác nhận mâu thuẫn giữa bà T và ông Q là đúng. Bà T và ông Q có hai con chung là Trần Minh Quân, sinh ngày 26/12/2001 (đã trưởng thành) và cháu Trần Thị Hồng Quyên, sinh ngày 16/02/2008.
. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản, ông Trần Văn Q vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản.
Về án phí: Bà Ngô Thị T phải bàu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân gia đình;
- Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Ngô Thị T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn với ông Trần Văn Q.
2.Về án phí: Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai số 0002603 ngày 18/12/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4.Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND Khu vực 2- Quảng Ninh; - TAND tỉnh Q. Ninh; - Phòng THADS Khu vực 2- Quảng Ninh ; - UBND phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Đức |