vanban.org

Bản án 21/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có lý lịch nêu trên ra trước Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS của Nước cộng hòa XHCN V…

Kèm theo Cáo trạng là: Toàn bộ hồ sơ vụ án được đánh số bút lục từ 01 đến …… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 21 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có lý lịch nêu trên ra trước Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS của Nước cộng hòa XHCN V…
  • Căn cứ chính? Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THỦY
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày: 21/5/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Dương Đình Tài

2. Ông: Nguyễn Ngọc Tính

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Vân Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ tham gia phiên toà: Bà: Bùi Thị Bích – kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2025 tại hội trường TAND huyện Cẩm Thủy. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/HSST, ngày 26/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 01/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2025/HSST-QĐ ngày 21/4 /2025 đối bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T- Sinh ngày 26 tháng 3 năm 1984 tại xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số 038084030993; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H sinh năm 1958 (Đã chết) và con bà: Cao Thị V sinh năm 1958; vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/11/2024, tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Ngô Văn Ch, sinh năm 1986

Trú tại: TDP Đ, thị trấn , C, Thanh Hóa.

Ông Trương CôngCh, sinh năm 1970

Trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 11 năm 2024, Phạm Văn Tgọi điện thoại choCh (Từ số của T0817176636 đến số củaCh 0352106162) (không rõ họ tên và năm sinh) người ở tổ dân phố Đại Quang, thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm Thủy nhiều lần để hỏi mua ma túy nhưngCh không nghe máy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngàyCh gọi lại cho Tnói: “Sao gọi nhiều thế”, Ttrả lời: “Chính ơi, còn không để cho anh một cái” (có nghĩa bán cho Tmột gói ma túy), một cái thông thường là giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).Ch nói với Tuấn: “ra đi” (có nghĩa là đã có ma túy ra nhàCh đi). Sau khi đã hỏi mua được ma túy Tđi bộ sang nhà Trương Công Chỉnh người cùng thôn mượn xe máy để đi đến nhàCh. Đi đến nơi Tđể xe ở ven đường, đi sát lại cửa gọi “Chính ơi” rồiCh đi sát lại cửa nói “ở dưới” Tnhìn xuống dưới cửa sắt có một cái lỗ nhỏ, Tbỏ tờ tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) vào choCh,Ch đưa cho Tmột gói giấy bạc nhỏ bên trong có chứa ma túy, loại Heroin. Mua được ma túy Tbỏ vào trong ốp điện thoại, cất giấu vào trong người rồi điều khiển xe máy đi về xã Cẩm Châu để tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến khu vực thôn Đồng Thanh, xã C, huyện C thì bị tổ công tác Công an huyện Cẩm Thuỷ đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra Tổ tuần tra Công an huyện phát hiện và thu giữ trong ốp sau điện thoại di động của Tđể trong người có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà (dạng cục vụn).

Ngày 03/11/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 255/LKX-ĐCSKT-MT đối với nơi ở của Phạm Văn Tuấn. Quá trình khám xét, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số: 4224/KL-KTHS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là ma túy, có tổng khối lượng 0,163g (Không phảy một sáu ba gam), loại Heroine.

Vật chứng vụ án gồm: - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A14 màu đen, đã qua sử dụng.

- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tổng khối lượng chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là 0,163g (không phẩy một sáu ba gam) loại: Heroine

Các vật chứng nêu trên đã được chuyển đến kho vật chứng của chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy.

- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu VISION, BKS: 36L1 - 261.52, đã qua sử dụng. Ngày 25/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy ra quyết định xử lý vật chứng số 1000/QĐ-ĐCSKT-MT trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trương Công Hữu.

Về nguồn gốc ma tuý: Phạm Văn Tkhai có được là do mua của người đàn ông tênCh (không tõ họ tên và năm sinh) người ở tổ dân phố Đại Quang, thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm Thủy ngày 01/11/2024. Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy đã tiến hành xác minh tại tổ dân Đại Quang có Ngô Văn Ch, sinh ngày 30/12/1986; tiến hành lấy lời khai và lập biên bản đối chất đối vớiCh. Tuy nhiênCh khai từ trước đến nay không quen biết, không có quan hệ gì với bị can Tuấn. Trước đâyCh có sử dụng số điện thoại 0352106162 nhưng vào khoảng tháng 10/2024Ch đã làm rơi điện thoại, từ đó không làm lại sim và không sử dụng điện thoại. Do đó ngày 01/11/2024Ch không gặp gỡ, trao đổi, mua bán gì với Tuấn. Do vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS-CT ngày 25/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đã quyết định truy tố: Phạm Văn Tvề tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 - BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 – Bộ luật TTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, lên mức án đối với bị cáo Ttừ 18 đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tổng khối lượng chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là 0,163g (không phẩy một sáu ba gam) loại: Heroine

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A14 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Tuấn.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:

Vào ngày 01/11/2024, tại tổ dân phố Đại Quang, thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa Phạm Văn Tđã có hành vi tàng trữ trái phép 0,163g (Không phảy một sáu ba gam), loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, đã thành khẩn khai báo mong được sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội tàng trái phép chất ma túy tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 249 – BLHS như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm hại đến trật tự trị an, an toàn xã hội mà hậu quả còn gây ra choCh bản thân bị cáo và gia đình. Nhà nước đã cấm mua bán, sử dụng, tàng trữ ma tuý nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật và thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do đó, việc lên mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt, đồng thời góp phần vào công tác phòng ngừa chung.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 – BLHS.

. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tổng khối lượng chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là 0,163g (không phẩy một sáu ba gam) loại: Heroine

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A14 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Tuấn.

. Về án phí: Bị cáo Tphải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1, Điều 51 - BLHS. Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 – Bộ luật TTHS. Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Phạm Văn Tphạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Phạm Văn T18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tổng khối lượng chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là 0,163g (không phẩy một sáu ba gam) loại: Heroine

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG GALAXY A14 màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Tuấn.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy.

Về án phí: Bị cáo Tphải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Cẩm Thủy;

- P7. VKS tỉnh Thanh Hóa;

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- Phân trại tạm giam KV Cẩm Thuỷ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Vũ Thị Ánh Tuyết VIỆN KSND TỈNH THANH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Mẫ u số 144/HS

HÓA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo QĐ số …. ngà y….

tháng…. nă m……. VIỆN KSND HUYỆN CẨM THỦY

Cẩm thủy ngày 22 tháng 7 năm 2019

Số: 27/CT-VKS - MT

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THỦY

Căn cứ các điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 24/CSĐT ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 249 BLHS.

Căn cứ quyết định khởi tố bị can số 54; 55; 56 ngày 26 tháng 4 năm 2019 và Quyết định khởi tố bị can số 57/CSĐT ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy, đối với Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 249 BLHS

Căn cứ Bản kết luận điều tra số 29/KL-CSĐT ngày 12/7/2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Thủy.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định đƣợc nhƣ sau:

Đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn; khi thực hiện hành vi phạm tội các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có sự bàn bạc thống nhất nhưng không có sự phân công, phân rõ ràng, cụ thể mà chỉ hiểu ý nhau để cùng thực hiện hành vi phạm tội, các bị can có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng đã cùng nhau đi mua ma túy về để các đối tượng cùng sử dụng do đó phải chịu trách nhiệmCh trong vụ án, đối với Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên được xác định là đồng phạm trong vụ án.

Quá trình điều tra, Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà Cơ quan CSĐT thu thập được như đã nêu trên.

- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

* Tình tiết tăng nặng: Không

* Tình tiết giảm nhẹ: Bị can Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Quàng Văn Nên là người chưa có tiền án tiền sự. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra các bị can Đoàn Văn Minh; Trịnh Xuân Hùng; Quàng Văn Nên và Phạm Văn Doanh có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải mong nhận được hưởng khoan hồng của pháp luật, do đó các bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:

KẾT LUẬN

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại thôn Vinh xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa, các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã có hành vi tàng trữ 0,429 g (không phẩy bốn hai chín gam) ma túy, loại Methamphetamine (Ma túy đá) để xử dụng. Hành vi của các bị can là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đếnCh sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm tội như sau:

LÝ LỊCH BỊ CAN

Hành vi nêu trên của Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 – BLHS năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)

Điều 249, khoản 1 BLHS 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:

a.

….

c. Heroin, cocain, Methamphetamine,Amphetamine,MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.

Đối với người đã bán ma túy cho Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, (Minh khai đã mua của một người đàn ông mà Minh không biết tên tuổi và địa chỉ) tại một quán Karaoke thuộc phố 1, xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc vào ngày 23/4/2019 với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sở dĩ Minh biết tìm đến khu vực trên để mua ma túy là do trước đây Minh được một người quen tên Hùng ( ở huyện Ngọc Lạc) có nói cho Minh biết. Mục đích Minh mua số ma túy trên là để Minh, Hùng, Doanh và Nên cùng sử dụng (hút hít) cho bản thân..

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Truy tố các bị can Đoàn Văn Minh, Trịnh Xuân Hùng, Phạm Văn Doanh và Quàng Văn Nên có lý lịch nêu trên ra trước Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS của Nước cộng hòa XHCN Việt Nam.

Kèm theo Cáo trạng là:

- Toàn bộ hồ sơ vụ án được đánh số bút lục từ 01 đến ……

- Bản kê vật chứng.

- Danh sách những người VKS đề nghị triệu tập đến phiên tòa./.

Cỡ chữ