vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Diễm M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/4/2025). Giao bị cáo Huỳnh Thị Diễm M cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị Mỹ D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 22-04-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Đặng Văn Việt

2. Ông Phạm Phước Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/HSST-QĐ ngày 07 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/HSST-QĐ ngày 27 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị Diễm M, sinh ngày 21/5/2001; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Cha tên: Huỳnh Minh D, sinh năm 1973; Mẹ tên: Bùi Thị N, sinh năm 1977; Bị cáo có 03 chị, em, bị cáo thứ 3 trong gia đình; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ, Tam giam: Không; Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa);

Bị hại:

Ông Phạm Văn C, sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (đã chết).

Đại diện hợp pháp của người bị hại Phạm Văn C:

1. Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1988;

2. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1996;

3. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1992;

4. Bà Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1990;

5. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1936 (chết ngày 03/01/2025);

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị T là ông Phạm Văn H2, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1964; Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của ông K, bà H1, ông H là bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 19988; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện theo ủy quyền (ngày 06/9/2024) (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Huỳnh Thị Diễm M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 20 giờ 24 phút ngày 24/8/2024, Huỳnh Thị Diễm M có giấy phép lái xe A1, điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda loại SH biển số 66M1-694.88, chở Lê Thị Ngọc H3, sinh năm 2003, nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chạy trên đường N (đường H) hướng Ngã tư Ô đi chợ Đ, khi đến đoạn đường thuộc khóm M, thị trấn M, huyện C, M điều khiển xe chạy với tốc độ 30 đến 40 km/h. My thấy phía trước khoảng 20 mét có ông Phạm Văn C, sinh năm 1958 đang chạy xe đạp sát lề đường cùng chiều phía trước, M điều khiển xe mô tô từ phía sau vượt lên bên trái để qua mặt xe ông C do không bảo đảm an toàn nên bánh trước xe mô tô của M đụng vào yên xe đạp và người ông C gây tai nạn giao thông. Hậu quả, ông C bị chấn thương vùng đầu được đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H tiếp tục điều trị đến ngày 26/8/2024 thì ông C tử vong.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Công an thị trấn M và đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C đến hiện trường lập biên bản hiện trường và sơ đồ hiện trường ghi nhận các dấu vết, đồng thời thu giữ các phương tiện có liên quan và giấy phép lái xe hạng A1 số 871219000154 tên Huỳnh Thị Diễm M để làm căn cứ phục vụ cho việc điều tra.

Tại phiếu đo nồng độ cồn vào lúc 22 giờ 54 phút ngày 24/8/2024 của đội giao thông Công an huyện C xác định Huỳnh Thị Diễm M không có nồng độ cồn trong hơi thở.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường cùng ngày 24/8/2024 và Kết quả dựng lại hiện trường lúc 08 giờ 30 phút ngày 28/8/2024, xác định: Mặt đường nơi xảy ra tai nạn rộng 6,45m, đường bê tông nhựa, đường thẳng tầm nhìn thông thoáng, có vách sơn đức nét giữa đường, lấy hướng Ngã 4 ông B đi chợ Đ làm lề chuẩn đo đạc tại hiện trường ghi nhận các ký hiệu (1) là vị trí xe đạp, (2) (3) là dấu vết cày, (4) xe mô tô, (5) vị trí ông C, (6) là vùng va chạm cách lề chuẩn là 01 mét, tâm vùng va chạm đến tâm trục trước xe đạp 3,40 mét, tâm vùng va chạm (6) đến đầu vết cày (3) là 3,30 mét. Quá trình khám nghiệm đã đo đạt, vẽ sơ đồ hiện trường và chụp ảnh đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1203/TTh-TTPY ngày 04/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận ông Phạm Văn C chết do bị chấn thương thương vùng đầu nứt xương sọ phức tạp gây dập và xuất huyết não là nguyên nhân tử vong.

Đối với, Lê Thị Ngọc H3 xây sát nhẹ nên từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

Từ các căn cứ trên, xác định nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn trên là do Huỳnh Thị Diễm M điều khiển xe mô tô, không tuân thủ các quy tắc khi tham giao thông, vượt không đúng quy định, không đảm bảo an toàn đã vi phạm vào Điều 14 Luật giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông dẫn đến hậu quả làm ông C tử vong, do đó lỗi chính thuộc về M.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Diễm M đã khắc phục hậu quả số tiền 100.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Bích L là đại diện theo hợp pháp cho ông C, chị L đã nhận tiền xong về dân sự chị L không còn yêu cầu gì thêm và đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho M. Qua đó, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại các xe trong vụ án cho các bên xong.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng, vật chứng được thu giữ, cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSHCL ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Diễm M với mức án từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) đến 03 (ba) năm.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Diễm M giấy phép lái xe hạng A1 số 871219000154 (Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh tạm quản lý).

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Thị Diễm M thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 09/CT-VKSHCL ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận như sau: Vào lúc 20 giờ 24 phút ngày 24/8/2024 tại đường N, thuộc khóm M, thị trấn M, huyện C. Do bị cáo Huỳnh Thị Diễm M điều khiển xe môtô biển số 66M1-694.88, không tuân thủ các quy tắc khi tham gia giao thông, điều khiển xe vượt không đảm bảo an toàn va chạm vào xe đạp điện của ông Phạm Văn C đang điều khiển cùng chiều phía trước là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông làm ông C tử vong.

Xét hành vi của bị cáo Huỳnh Thị Diễm M, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn giao thông để xảy ra va chạm khi lưu thông và đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo là phạm tội, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người” b)........................”

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả xong cho đại diện hợp pháp của bị hại; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, có ông ngoại là ông Bùi Văn T1 và bà ngoại là bà Bùi Thị D1 tham gia cách mạng, chưa có tiền án, tiền sự, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần cải tạo, giáo dục tại địa phương là đủ để răn đe đối với bị cáo nên cần căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt đối với bị cáo và đồng thời là phù hợp với đề nghị của đại diện hợp pháp bị hại.

Đối với Lê Thị Ngọc H3 xây sát nhẹ nên từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với giấy phép lái xe hạng A1 số 871219000154 tên Huỳnh Thị Diễm M của bị cáo cần xem xét trả lại cho bị cáo M.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh về tội danh, điều luật truy tố, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Diễm M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/4/2025).

Giao bị cáo Huỳnh Thị Diễm M cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị Diễm M giấy phép lái xe hạng A1 số 871219000154, tên Huỳnh Thị Diễm M.

(Hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng)

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Diễm M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Phạm Văn H2 và bà Phạm Thị G vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ