- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cản trở giao thông đường bộ - phạm tội cản trở giao thông đường bộ (điều 261 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 28 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn và ông Nguyễn Xuân Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, phường B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kỹ thuật thi công xây dựng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và con bà Phạm Thị T2, sinh năm 1958; có vợ là Lê Thị Â, sinh năm 1982 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Trần Thị L, sinh năm 1995 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1992 (là chồng) và bà Phạm Thị H, sinh năm 1977 (là mẹ đẻ);
Cùng địa chỉ: Thôn Đ 04, xã Q, tỉnh Lâm Đồng – Anh T1 vắng mặt, bà H có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH MTV Hoàn P;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
+ Công ty TNHH MTV xây dựng T.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
- Những người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Minh T4, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
+ Anh Lê Hồng V, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, xã C, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 – Có mặt;
Địa chỉ: Hẻm 19, đường Y , phường B, tỉnh Đắk Lắk.
+ Anh Thân Đức K, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Số 221, đường H, xã C, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/8/2020, UBND huyện Đắk R’Lấp có Quyết định số: 3016/QĐ-UBND về việc phê duyệt công trình nâng cấp, sửa chữa đường liên xã Quảng Tín
- Đắk Sin (giai đoạn 2). Ngày 23/10/2020, Công ty TNHH MTV xây dựng T (gọi tắt là Công ty Trí Nguyên) do ông Nguyễn Văn T3 làm giám đốc và Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đắk R’Lấp (chủ đầu tư) cùng ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình số: 20/2020/HĐ-XD, gói thầu nâng cấp, sửa chữa đường liên xã Quảng Tín – Đắk Sin (giai đoạn 2) với tổng giá trị hợp đồng là 4.291.368.000đ.
Ngày 10/11/2020, Công ty T và Công ty H do ông Lê Văn H1 làm giám đốc, ký kết hợp đồng giao khoán số: 1011/HĐGK/2020 kèm theo Bảng kê khối lượng công việc về việc giao khoán trọn gói phần nhân công thi công xây dựng công trình: Nâng cấp, sửa chữa đường giao thông liên xã Quảng Tín – Đăk Sin (giai đoạn 2) với đơn giá hợp đồng trọn gói là 725.000.000 đồng. Trong hợp đồng giao khoán, quy định tại Điều 1 “Bên A khoán cho bên B công việc thi công xây dựng công trình: Nâng cấp, sửa chữa đường giao thông liên xã Quảng Tín – Đắk Sin giai đoạn 2 (2,3 km đường) có Bảng kê chi tiết khối lượng kèm theo và Điều 6: Có trách nhiệm đảm bảo an ninh trật tự, bảo đảm an toàn lao động trên công trường và mua bảo hiểm tai nạn lao động cho công nhân thi công làm việc tại công trình nhằm trường hợp bất trắc xảy ra ngoài ý muốn”. Sau khi ký hợp đồng giao khoán, ông Lê Văn H1 chỉ đạo bằng miệng cho Nguyễn Minh T4 là nhân viên công ty H thay mặt Ban giám đốc phụ trách chung công trình và Nguyễn Văn T với chức vụ là Nhân viên kỹ thuật của Công ty H có trách nhiệm quản lý và chỉ đạo trực tiếp về mọi mặt tại công trình. Từ tháng 5/2021, Công ty H đã thuê nhiều nhóm thợ thi công. Trong giai đoạn thi công, T4 và T đã chỉ đạo cho nhân viên công ty đặt các biển cảnh báo an toàn giao thông ở hai đầu đoạn đường. Các biển báo được đặt cách điểm thi công khoảng 100m, mỗi biển cảnh báo an toàn giao thông gồm 03 biển hình tam giác tích hợp lại với nhau thể hiện nội dung đoạn đường đang thi công, đi chậm … Các biển cảnh báo này đặt trên đoạn đường thi công cả ngày lẫn đêm và xuyên suốt trong quá trình thi công. Đến khoảng giữa tháng 5/2021, công trình tạm dừng do thiếu vốn và thời tiết mưa nhiều nên đồ đạc tại công trường được thu gom đưa về khu tập kết gần công trường.
Đến cuối tháng 6/2021, ông Lê Văn H1 phân công ông T4 phụ trách, quản lý trạm trộn bê tông tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, phân công T làm phụ trách, quản lý thi công, xây dựng hệ thống thoát nước phần còn lại tại công trường. Sau khi được giao, T gặp và thỏa thuận bằng miệng với anh Lê Hồng V về việc thuê anh V cùng nhóm thợ của anh V (tổng cộng 06 người) để tiếp tục xây dựng hệ thống mương thoát nước hai bên đường liên xã Đắk Sin – Quảng Tín với giá 110.000 đồng/01m, toàn bộ vật tư như xi măng, đá (1x2) cm, tấm đan bê tông và nước do phía Công ty H cung cấp cho nhóm anh V thi công xây dựng. Ngày 28/6/2021, T chỉ cho anh V biết mặt bằng đoạn đường mương cần thi công và giao bản vẽ thiết kế thi công cho nhóm anh V, đồng thời chỉ đạo cho Nguyễn Văn N và Thân Đức K là nhân viên Công ty H sử dụng xe ô tô tải ben, xe cuốc của công ty chở vật liệu xây dựng từ điểm tập kết gần công trường đến các địa điểm cho nhóm anh V xây dựng. Sau khi giao mặt bằng thi công cho nhóm anh V và chỉ đạo K và N cung cấp vật liệu cho nhóm anh V thi công thì T rời khỏi công trường để làm việc khác mà không tiến hành giám sát thi công, cũng không trực tiếp kiểm tra các thiết bị cảnh báo an toàn giao thông tại công trường, không chỉ đạo cho người khác kiểm tra, lắp đặt biển báo an toàn giao thông trên đoạn đường đang thi công.
Khi nhóm anh V bắt đầu thi công xây dựng thì N tự đi kiểm tra các biển báo nhưng thấy toàn bộ công trường không có biển báo. Khoảng hai ngày sau, thấy T đến công trường nên N nói cho Thái biết các biển báo và các thiết bị cảnh báo an toàn của công trình đang thi công đã bị mất. Sau đó, T không kiểm tra lại, không có biện pháp gì để cảnh báo an toàn cho người, phương tiện tham gia giao thông và cũng không yêu cầu dừng việc thi công lại để đảm bảo an toàn.
Ngày 02/7/2021, N và K cung cấp vật liệu tới điểm thi công cho nhóm anh V làm. Trong đó, K phụ trách điều khiển xe máy xúc, múc cát đá đổ lên xe ô tô cho N điều khiển và đổ ra đường tại vị trí nhóm anh V thi công. Trong quá trình thi công, do thấy anh N đang bận làm công việc khác nên K chủ động điều khiển xe ô tô tải ben chở cát, đá và đổ thành 03 đống cát, đá chồng lên nhau, mỗi đống cách nhau khoảng 50m, nằm trên mặt đường đoạn thôn 4, xã Đắk Sin và đều nằm trên phần đường bên phải theo hướng xã Đắk Sin đi xã Quảng Tín. Cả 03 đống cát, đá đều chiếm 01 phần đường lưu thông giống như các đống vật liệu mà N đã đổ trước đó. Sau khi đổ các đống vật liệu này ra lòng lề đường thì T (là người được giao quản lý chỉ đạo tại công trường) không đặt biển cảnh báo nguy hiểm đoạn đường đang thi công có vật cản đổ trên lòng đường, không có đèn tín hiệu, người chỉ dẫn giao thông hay bất cứ một biện pháp cảnh báo an toàn nào cho người tham gia giao thông.
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 7 năm 2021, chị Trần Thị L điều khiển xe mô tô, BKS: 48H1 – 141.93 lưu thông đường liên xã hướng từ xã Đắk Sin đi xã Quảng Tín. Tới đoạn đường thuộc thôn 4, xã Đăk Sin, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông, xe mô tô chị L điều khiển tông vào đống cát, đá đổ chồng lên nhau ở phần đường bên phải theo hướng đi làm chị L và xe mô tô ngã xuống đường gây đa chấn thương. Hậu quả: Chị Trần Thị L chết trên đường đi cấp cứu. Xe mô tô BKS: 48H1 – 141.93 bị trầy xước nhẹ.
Sau tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, căn cứ các dấu vết để lại hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn có kết cấu bê tông nhựa bán thâm nhập, rộng 5,7 mét, không có vạch kẻ phân chia làn đường. Hai bên có bố trí lề đất rộng 0,8 mét tính từ mép đường, tiếp giáp liền kề là hệ thống rãnh nước đang thi công rộng 1,6 mét, sâu 01 mét dọc hai bên đường. Ghi nhận đống cát đá nằm trên mặt đường nhựa (phần đường dành cho xe chạy) có kích thước (3,2mx2,6m), cao 1,2 mét so với mặt đường. Theo chiều hướng khám nghiệm từ xã Đắk Sin ra xã Quảng Tín phát hiện vết hằn, rãnh, luống tại vị trí mép ngoài bên trái đống cát, đá có kích thước (2,4mx0,35m). Đầu vết hằn cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm 2,3 mét được xác định là điểm va chạm đầu tiên.
Ta ̣i bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y về tử thi số: 67/TT ngày 20 tháng 7 năm 2021, của Trung tâm pháp y tinh Đẳ
́k Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng), kết luâ ̣n: Nứt hộp sọ vùng thái dương phải, đường nứt hở 0,2 cm. Gãy đầu ngoài xương đòn phải. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não/ Đa chấn thương.
Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk R’lấp (cũ) thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, số máy: JA38E0189654, số khung: 3917GY08114, BKS: 48H1 – 141.93.
Cáo trạng số: 12/CT-VKS-KV7 ngày 09/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Cản trở giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội: “Cản trở giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk R’lấp đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Phạm Thị H (Là mẹ đẻ của bị hại Trần Thị L) 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, số máy: JA38E0189654, số khung: 3917GY08114, BKS: 48H1 – 141.93 là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty T, Công ty H và Nguyễn Văn T đã hỗ trợ, bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa đại diện bị hại (bà H là mẹ của bị hại) không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian chăm lo cho gia đình vì các con của bị cáo còn rất nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp (Nay là cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Nguyễn Văn T là nhân viên kỹ thuật của Công ty TNHH MTV H, từ tháng 6/2021 T được ông Lê Văn H1 là giám đốc Công ty giao trách nhiệm chỉ đạo, quản lý trực tiếp về mọi mặt tại công trình nâng cấp, sửa chữa đường giao thông liên xã Đắk Sin – Quảng Tín. Trong quá trình thi công dù được nhân viên thông báo các biển báo an toàn giao thông đã bị mất, tại công trường không có biển báo an toàn giao thông nhưng T vẫn cho thi công không có biện pháp bảo đảm an toàn giao thông nào, không có mặt tại hiện trường để giám sát, kiểm tra. Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 7 năm 2021, chị Trần Thị L điều khiển xe mô tô BKS: 48H1 – 141.93 lưu thông trên đường liên xã hướng từ xã Đắk Sin đi xã Quảng Tín khi tới đoạn đường thuộc thôn 4, xã Đăk Sin, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn Đắk Sin 4, xã Quảng Tín, tỉnh Lâm Đồng), xe mô tô chị L điều khiển tông vào đống cát, đá đổ chồng lên nhau ở phần đường bên phải theo hướng đi, làm chị L và xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả chị Trần Thị L chết do chấn thương sọ não, đa chấn thương. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội: “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm a khoảng 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm chết người;
Xét tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo khi được giao giám sát, kiểm tra công trình thi công sửa chữa, nâng cấp đường giao thông phải đảm bảo an toàn giao thông, phải có đầy đủ các biển cảnh báo cho người và phương tiện tham gia giao thông biết. Tuy nhiên, do thiếu trách nhiệm và lỗi cẩu thả nên hành vi của bị cáo đã dẫn đến tai nạn cho người tham gia giao thông, hậu quả làm chết người.
Về tình tiết định khung hình phạt và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện hỗ trợ và bồi thường cho gia đình bị hại; được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và đề nghị không yêu cầu khởi tố hình sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Về hình phạt: Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà xử hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình quản lý, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.
Về việc bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra bị cáo đã cùng Công ty TNHH MTV xây dựng T, Công ty TNHH MTV H hỗ trợ, bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện theo pháp luật của bị hại (mẹ của bị hại) không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Về việc xử lý vật chứng: Đối 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen, số máy: JA38E0189654, số khung: 3917GY08114, BKS: 48H1 – 141.93 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị H nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp (cũ) đã trả lại cho bà Hoá là có căn cứ cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cản trở giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/9/2025.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bắc Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Phòng PV06, PC10 – CA tỉnh Lâm Đồng; - VKSND KV 7 – Lâm Đồng; - Phòng THADS KV 7 – Lâm Đồng; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nông Văn Nhu |