vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm Ng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Ng 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 04/9/2025). Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạc Cầm Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm Ng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS - ST
Ngày 29 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Sơn

Ông Tòng Văn Hưng

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2-Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 22/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bạc Cầm Ng. Tên gọi khác: Không có. Sinh năm 1984

Tại: Điện Biên

Nơi cư trú: Bản P, xã S, tỉnh Điện Biên.

Trước đây là: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bạc C và con bà Cà Thị L; Vợ: Lò Thị Đ; con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị kết án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/9/2025 và tạm giam đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ ngày 04/9/2025, tổ công tác Công an xã N, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực đầu bản N, xã N, tỉnh Điện Biên phát hiện Bạc Cầm Ng có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Ng 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng miệng gói được cuốn lại, bên trong có 02 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có các cục màu trắng nghi Heroine.

Quá trình điều tra Bạc Cầm Ng khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 04/9/2025, Bạc Cầm Ng đi bộ một mình từ nhà đến khu vực bản N, xã N, tỉnh Điện Biên, mục đích tìm mua ma tuý để bản thân sử dụng. Tại đây, Ng gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine với giá 200.000 đồng. Mua xong, Ng cầm gói ma tuý ở tay trái rồi đi bộ về nhà thì bị tổ công tác Công an xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 04/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và bản Kết luận giám định số 937/KL - KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Bạc Cầm Ng ký hiệu M1 có khối lượng 0,22 gam là chất ma túy loại Methamphetamine; ký hiệu M2 có khối lượng 0,3 gam là chất ma túy loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV2 ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Bạc Cầm Ng về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Ng từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,27 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu trắng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 19 giờ ngày 04/9/2025, tổ công tác Công an xã N, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực đầu bản N, xã N, tỉnh Điện Biên phát hiện bị cáo Bạc Cầm Ng có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo Ng 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng bên trong có 02 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có các cục màu trắng nghi Heroine.

Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo gồm 0,3 gam Heroine và 0,22 gam Methamphetamine. Bị cáo khai mục đích cất giấu Heroine và Methamphetamine để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy gồm 0,3 gam Heroine và 0,22 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì 02 chất ma túy bị cáo tàng trữ đều được quy định trong cùng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, cộng tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,52 gam. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng: Gồm 0,3 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,27 gam sau khi giám định) và 0,22 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,18 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu trắng không có giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Tuy nhiên bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST. Vì vậy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người phụ nữ bị cáo không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.

Bị cáo khai mua ma túy về sử dụng. Ngày 04/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể bị cáo. Kết quả dương tính với chất ma túy nhóm MOP và MET nhưng bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày 14/9/2025 Công an xã Núa Ngam đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo đối với Ng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm Ng phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Ng 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 04/9/2025).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu tiêu huỷ: 0,3 gam Heroine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,27 gam sau khi giám định) và 0,22 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,18 gam sau khi giám định) và 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu trắng.

Vật chứng đã được Công an tỉnh Điện Biên bàn giao sang phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 20/11/2025.

4. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/12/2025).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ