vanban.org

Bản án 21/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 06/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu hồng, mảnh bao nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín; mảnh giấy màu trắng và toàn b…

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc Lữ Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lữ văn b, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu hồng, mảnh bao nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín; mảnh giấy màu trắng và toàn b…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày 06-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Duệ

Ông Vi Văn Duẩn

- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Thái - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An (Điểm cầu trung tâm) và tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An (Điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến và trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lữ Văn B. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 20/7/1996 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản L B, xã C T, huyện Q C, tỉnh N A. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 3/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lữ Văn T (đã chết) và bà Lô Thị B. Vợ là Vi Thị H và có 01 người con sinh năm 2021. Tiền án: Ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Quê Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 109/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 20/5/2022, chưa được xóa án tích; Ngày 20/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 07/2023/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2024, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Trợ giúp viên pháp lý. Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Những người làm chứng:

1. Vi Mạnh L. Sinh năm 1995. Trú tại: Bản Đ T, xã C H, huyện Q C, tỉnh Ng A. Vắng mặt.

2. Vi Văn H. Sinh năm 1977. Trú tại: Bản Kẻ N, xã Châu H, huyện Qùy Ch, tỉnh Ng A. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 18/01/2025, Lữ Văn B đi từ nhà ở tại xã Ch Th, huyện Q Ch, tỉnh Ng A lên địa bàn huyện Q Ph, tỉnh Ng A để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực xã Q Ph, huyện Q Ph, Lữ Văn B gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) ma túy với người đàn ông này. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho B 01 (một) gói ma túy được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng. Sau khi về đến nhà, Lữ Văn B chia gói ma túy vừa mua được thành 33 (ba mươi ba) gói nhỏ trong đó có 32 gói, mỗi gói bên ngoài được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng, bên trong bọc bằng mảnh giấy màu trắng và 01 gói bọc bằng mảnh giấy màu trắng. Toàn bộ số ma túy nêu trên B cho vào một bao nilon màu hồng rồi cất vào túi bên trái áo khoác đang mặc. Khoảng 19 giờ ngày 19/01/2025, Lữ Văn B, Vi Mạnh L, sinh năm 1995, trú bản Định T, xã Châu H, huyện Quỳ Ch, tỉnh Nghệ A đến nhà Vi Văn H, sinh năm 1977, trú bản Kẻ N, xã Châu H, Quỳ Ch, Nghệ A chơi. Tại đây, H hỏi mua 100.000đ (một trăm nghìn đồng) Heroine với B để sử dụng. Vì H chưa có tiền nên nói với B là hôm sau có tiền thì H sẽ trả tiền cho B thì B đồng ý. Lữ Văn B lấy từ bao nilon màu hồng trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra 01 (một) gói chất rắn màu trắng, bọc bằng mảnh giấy màu trắng rồi đưa cho Vi Văn H, việc H hỏi mua ma túy và B đưa gói ma túy cho H thì L có nhìn thấy nhưng không tham gia vào việc mua bán ma túy. Khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện Quỳ Châu phối hợp cùng Công an xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Vi Văn H. Vì lo sợ bị phát hiện, Vi Văn H thả từ lòng bàn tay trái ra 01 gói chất rắn màu trắng, bọc bằng mảnh giấy màu trắng xuống nền nhà thì bị Tổ công tác phát hiện, thu giữ. Tiến hành kiểm tra trong túi áo khoác bên trái của Lữ Văn B đang mặc có 01 bao nilon màu hồng, bên trong có chứa 32 (ba mươi hai) gói trong mỗi gói có chứa chất rắn màu trắng, bên ngoài bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng, bên trong bọc bằng mảnh giấy màu trắng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 130/KL- KTHS(Đ2-MT) ngày 24/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Vi Văn H gửi tới giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine và khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam).

Tại Bản kết luận giám định số 131/KL- KTHS(Đ2-MT) ngày 24/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M32) thu giữ của Lữ Văn B gửi tới giám định đều là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine và có tổng khối lượng là 1,64g (một phẩy sáu mươi tư gam).

Tại Cơ quan điều tra, Lữ Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 17/CT-VKS-QC ngày 20/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định truy tố bị cáo Lữ Văn B ra trước Tòa án để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lữ Văn Bằng từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma tuý’’. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo có trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có nhiều tệ nạn xã hội phức tạp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lữ Văn B 07 năm tù về tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma tuý’’. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng, không có ý kiến gì trong phần tranh luận và không bổ sung thêm ý kiến gì vào bản bào chữa của người bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người làm chứng: Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người làm chứng. Do đó sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng.

[3] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được vào ngày 18/01/2025 bị cáo đi lên khu vực xã Quang Ph, huyện Quế Ph, tỉnh Nghệ A gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 1.000.000đ (một triệu đồng), sau khi về đến nhà thì bị cáo chia gói ma túy ra thành 33 gói nhỏ nhằm mục đích bán kiếm lời. Khoảng 19 giờ ngày 19/01/2025 bị cáo đến nhà Vi Văn H và đã bán cho H 01 gói ma túy với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) nhưng do H chưa có tiền nên bị cáo cho nợ hôm sau lấy tiền. Đến khoảng 19 giờ 10 phút, Công an tiến hành kiểm tra tại nhà H và phát hiện bắt quả tang H tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,02g là gói ma túy vừa mua của bị cáo Lữ Văn B; bị cáo Lữ Văn B tàng trữ 32 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 1,64g nhằm mục đích bán kiếm lời.

Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi bán một lần cho Vi Văn H 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,02g với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ 1,64g ma túy loại Heroine với mục đích bán kiếm lời. Vào ngày 30/9/2021 bị cáo bị Tòa án xử phạt 12 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’, chấp hành xong hình phạt ngày 20/5/2022 chưa được xóa án tích, đến ngày 20/02/2023 tiếp tục bị Tòa án xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy’’, chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2024, đến ngày 19/01/2025 tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ‘‘Tái phạm’’ nay lại phạm tội. Do đó phạm tội lần này thuộc trường hợp định khung hình phạt là ‘‘Tái phạm nguy hiểm’’. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lữ Văn Bằng đã phạm vào tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma tuý’’ theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 18/01/2025, quá trình điều tra và tại phiên toà không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với Vi Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,02g ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng. Do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) theo quy định.

Đối với Vi Mạnh L có nhìn thấy việc mua bán ma túy giữa bị cáo và H, tuy nhiên L không tham gia vào việc mua bán ma túy, do đó L không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tính chất của vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ nhận thức nhất định về pháp luật để biết rằng các loại ma túy nói chung là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép, mặc dù đã từng hai lần bị Tòa án các cấp xử phạt tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo đã không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường kỷ cương pháp luật và vẫn tiếp tục thực hiện hành vi tìm mua ma túy về để bán nhằm kiếm tiền một cách nhanh chóng mà không phải đổ mồ hôi, công sức. Bị cáo đã bán 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,02g cho Vi Văn H, đồng thời còn tàng trữ 1,64g ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy là 1,66g. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp ‘‘Tái phạm nguy hiểm’’ là tình tiết định khung hình phạt theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và có một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: ‘‘Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền…’’. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản và không có khả năng thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 1,64g ma túy loại Heroione của Lữ Văn B, đã lấy toàn bộ gửi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nay còn lại mảnh bao nilon màu hồng, mảnh bao nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín.

- 0,02g ma túy loại Heroine của Vi Văn H, đã lấy toàn bộ gửi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định, nay còn lại mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín.

Cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên theo quy định.

[7] Về biện pháp tư pháp: Mặc dù bị cáo Lữ Văn B đã bán cho Vi Văn H 01 gói ma túy với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), tuy nhiên bị cáo chưa nhận được số tiền này từ H. Do đó không truy thu số tiền này đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lữ Văn B 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội ‘‘Mua bán trái phép chất ma tuý’’. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/01/2025.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mảnh bao nilon màu hồng, mảnh bao nilon màu trắng, mảnh giấy màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín; mảnh giấy màu trắng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào một phong bì thư dán kín. (Tất cả vật chứng nói trên có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng được lập vào ngày 24/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc Lữ Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ