- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Mai Thành T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 28 – 4 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Mỹ Như.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Đức
2. Bà Nguyễn Thị Minh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án tại điểm cầu trung tâm tại Trụ sở TAND huyện Tứ Kỳ; ông Phạm Văn Hùng – Thư ký Tòa án tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB – TA ngày 23 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Mai Thành T, sinh ngày 07 tháng 7 năm 199x, tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: ấp 2, xã PA, huyện TP, tỉnh Đ; Tạm trú tại Khu 1 TS, thị trấn KT, huyện TT, tỉnh TH; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Mai Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ. Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tứ Kỳ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương – Phân trại tam giam khu vực Tứ Kỳ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Thành T không có việc làm ổn định. Ngày 10/12/2024, T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo, loại 1906, lắp sim số 0965.352.xxx đăng nhập tài khoản Facebook tên “Ngọc T Bita” vào các hội nhóm để tìm việc làm. Qua mạng xã hội, T quen một người có tài khoản zalo “Văn Đức” bảo T sang tỉnh Hải Dương để làm việc, người này hướng dẫn T kết bạn zalo nên T đã sử dụng tài khoản zalo tên “T Anh”, đăng ký bằng số điện thoại 0965.352.537 kết bạn. Theo sự hướng dẫn của người có tài khoản zalo “Văn Đức”, khoản 13 giờ ngày 17/12/2024, T đi xe khách từ Thanh Hóa ra đến thành phố Hải Dương, tại đây T gặp một nam thanh tiên khoảng 30 tuổi, là người sử dụng tài khoản zalo “Văn Đức” (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau đó người này sử dụng xe máy nhãn hiện YAMAHA, loại Exciter, màu sơn đen, không đeo biển số chở T đến nhà nghỉ Ánh Bình Minh thuộc thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và thuê phòng 306 để nghỉ. Qua nói chuyện, nam thanh niên này rủ T chế tạo pháo nổ để bán kiếm lời, T đồng ý. Sau một lúc đi ra ngoài, người này về phòng mang theo một túi nilon màu đen chứa dụng cụ chế tạo pháo nổ bao gồm 02 ống kim loại màu trắng đường kính 1,2cm; 01 kéo bằng kim loại có chuôi cầm bằng nhựa màu đen dài 18cm; 01 thìa bằng nhựa màu trắng dài 15cm; 03 đoạn tre hình trụ có đường kín 0,5cm, một đầu vót dẹt; 03 tờ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng; 01 lọ keo 502; 01 tờ giấy tập học sinh được cuộn hình phễu nhưng chưa có thuốc pháo nên chưa làm pháo được. Sau đó người thanh niên này nói với T có người muốn mua 15kg pháo nổ giá 15.000.000đồng, rủ T cùng nhau bán, lãi chia đôi, T đồng ý. Khoảng 10 giờ ngày 18/12/2024, nam thanh niên đi ra ngoài và mang về một balo bên trong có chứa các quả pháo nổ đã cuộn sẵn, hình trụ, bằng giấy, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, đầu quả pháo có gắn dây dẫn cháy và bảo T cùng mang bán cho người phụ nữ tên H, số điện thoại 0565.896.xxx. T nhắn tin với người mua pháo hẹn gặp giao pháo nổ ở khu vực thị trấn Tứ Kỳ. Sau đó, người thanh niên chở T cùng ba lô chứa pháo nổ ra khu vực đường bê tông thuộc khu La Tỉnh Bắc, thị trấn Tứ Kỳ. T đứng chờ người mua pháo còn nam thanh niên chạy xe đi đâu không biết. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T đang đứng cạnh ba lô đựng pháo nổ thì bị Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, bắt quả tang thu giữ hiện vật bao gồm: 01 ba lô màu đen bên trong có chứa 36 vật hình trụ tròn, được quấn bằng giấy tập học sinh, bên ngoài quấn giấy màu đỏ, cao từ 13cm đến 15,5cm, đường kính từ 4,5cm đến 7cm, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn dây màu hồng và màu trắng có độ dài từ 02cm đến 6cm. Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền T hành kiểm tra, thu giữ tại phòng 306, nhà nghỉ Ánh Bình Minh 02 ống kim loại màu trắng đường kính 1,2cm; 01 kéo bằng kim loại có chuôi cầm bằng nhựa màu đen dài 18cm; 01 thìa bằng nhựa màu trắng dài 15cm; 03 đoạn tre hình trụ có đường kín 0,5cm, một đầu vót dẹt; 03 tờ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng; 01 lọ keo 502; 01 tờ giấy tập học sinh được cuộn hình phễu; 01 túi nilon màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo lắp sim số 0965.352.537.
Tại Kết luận giám định số 08 ngày 22/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương xác định: 36 vật hình trụ tròn, cuộn bằng giấy tập học sinh, bên ngoài quấn bằng giấy màu đỏ, kích thước khác nhau cao từ 13cm đến 15,5cm, đường kính từ 4,5cm đến 7cm, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn màu hồng và máu trắng. Tất cả đều là pháo nổ. Tổng khối lượng 11,032 kg.
Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKSTK, ngày 27 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương để xét xử đối với bị cáo Mai Thành T về tội “Buôn bán hàng cấm”; theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Mai Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 ống kim loại màu trắng đường kính 1,2cm; 01 kéo bằng kim loại có chuôi cầm bằng nhựa màu đen dài 18cm; 01 thìa bằng nhựa màu trắng dài 15cm; 03 đoạn tre hình trụ có đường kín 0,5cm, một đầu vót dẹt; 03 tờ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng; 01 lọ keo 502; 01 tờ giấy tập học sinh được cuộn hình phễu; 01 túi nilon màu đen là các dụng cụ để sản xuất pháo nổ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy; Tịch thu phát mại, sung quỹ nhà nước đối với điện thoại nhãn hiệu Vivo và tiêu hủy thẻ sim vật lý mang số 0965.352.xxx.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là đúng và bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người T hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 18/12/2024, tại đường bê tông thuộc khu vực khu L, thị trấn T, huyện TK, tỉnh Hải Dương, Mai Thành T có hành vi tàng trữ 11,032kg pháo nổ nhằm mục đích để bán thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an thị trấn Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc bán pháo nổ khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, lưu thông, buôn bán nhưng vì lợi ích cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tổng khối lượng pháo bị cáo mang đi bán là 11,032kg, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, góp phần phát tán những hàng hóa đặc biệt mà Nhà nước cấm lưu hành. Bị cáo cũng nhận thức việc sử dụng pháo nổ có thẩ là nguy cơ tiềm ẩn tiềm ẩn gây ra những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn trong địa phương nhưng vì mục đích kiếm tiền mà bị cáo bất chấp thực hiện hành vi pháp luật nghiêm cấm. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Song, vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 9,944kg pháo nổ (gồm 32 vật hình trụ tròn, được quấn bằng giấy nhiều lớp, kích thước khác nhau, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn) hoàn lại sau giám định. Ngày 08/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định tiêu huỷ số 21/QĐTLHĐTH và T hành tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật; Đối với 02 ống kim loại màu trắng đường kính 1,2cm; 01 kéo bằng kim loại có chuôi cầm bằng nhựa màu đen dài 18cm; 01 thìa bằng nhựa màu trắng dài 15cm; 03 đoạn tre hình trụ có đường kín 0,5cm, một đầu vót dẹt; 03 tờ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng; 01 lọ keo 502; 01 tờ giấy tập học sinh được cuộn hình phễu; 01 túi nilon màu đen là các dụng cụ để sản xuất pháo nổ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy; Đối với điện thoại nhãn hiệu Vivo lắp thẻ sim số 0965.352.537, là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người thanh niên sử dụng tài khoản zalo tên “Văn Đức”, là người mang các dụng cụ để sản xuất pháo, là người cung cấp pháo nổ để T mang đi bán. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tứ Kỳ không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, chưa có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với chị Nguyễn Thị K là người đứng tên đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0965.352.xxx. Quá trình điều tra xác định chị K có đăng ký sim số nhưng chị bị mất sim và điện thoại nên không sử dụng số thuê bao trên từ năm 2021, chị K không quen biết bị cáo cũng như không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ xử lý.
Đối với anh Hà Văn D là người đứng tên đăng ký chủ thuê bao số điện thoại 0565.896.xxx. Quá trình điều tra xác định anh Dũng không sử dụng số điện thoại trên, không biết giao dịch mua bán pháo, không biết người tên là H như lời khai của bị cáo nên không xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,…và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt Bị cáo Mai Thành T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 02 ống kim loại màu trắng đường kính 1,2cm; 01 kéo bằng kim loại có chuôi cầm bằng nhựa màu đen dài 18cm; 01 thìa bằng nhựa màu trắng dài 15cm; 03 đoạn tre hình trụ có đường kín 0,5cm, một đầu vót dẹt; 03 tờ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng; 01 lọ keo 502; 01 tờ giấy tập học sinh được cuộn hình phễu; 01 túi nilon màu đen; thẻ sim vật lý số 0965.352.537.
Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại 1906 đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 17/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
Kiến nghị Tổng công ty dịch vụ viễn thông Viettel xử lý đối với số thuê bao di động 0965.352.537 đồng thời tịch thu sung Quỹ Nhà nước số tiền hiện có trong tài khoản (nếu có) theo quy định của Luật Viễn thông.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Mai Thành T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dương; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hải Dương; - VKS, Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ; Lưu vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mỹ Như |