- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phi H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––– Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 31 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hùng và bà Chu Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Phi H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 09/8/2001 tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh S (đã chết) và bà Lê Thị N; có vợ là Đào Thị Tuyết N1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án kết án hay bị cơ quan Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo được tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Các bị hại:
- Ông Phùng Đức C, sinh năm 1962; ĐKTT: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Chết ngày 27/9/2024).
Những người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Đức C gồm: Bà Đỗ Thị Hiên N2, sinh năm 1974 (Là vợ của ông C); chị Phùng Phạm Phương N3, sinh năm 1988 (Là con của ông C); chị Phùng Phạm Phương D, sinh năm 1990 (Là con của ông C); đều cư trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Chị Phùng Phạm Phương N3 và chị Phùng Phạm Phương D ủy quyền cho bà Đỗ Thị Hiên N2 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 22/11/2024. Bà N2 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Đào Thị Tuyết N1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/8/2024, Lê Phi H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 29AE-042.33, chở người ngồi phía sau là Đào Thị Tuyết N1 là vợ của H đi trên đường Hồ Chí Mính theo hướng Hoà Bình đi Hà Nội. H và N1 đều đội mũ bảo hiểm. Do trời mưa, H và N1 có mặc áo mưa (dạng áo mưa đôi), thân áo mưa trùm qua đầu xe mô tô, nên đã che vào đèn của xe mô tô, làm cho đèn xe bị tối. Khi H điều khiển xe mô tô đi đến Km 441+800 thuộc thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình, do không chú ý quan sát nên khi H phát hiện thấy ông Phùng Đức C đang đi bộ sang đường, từ phải sang trái theo hướng Hòa Bình đi Hà Nội nên không kịp xử lý, đã đâm vào người ông C. Sau đó, ông C được đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103. Do thương tích nặng, nên ông C chết vào ngày 27/9/2024.
Biên bản khám nghiệm hiện trường 26/8/2024 và biên bản thực nghiệm điều tra 30/10/2024 xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 441+ 800 đường Hồ Chí Minh thuộc Tân Sơn, Liên Sơn, Lương Sơn, Hoà Bình. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường nhựa phẳng áp dụng cho hai chiều xe chạy hướng Xuân Mai đi chợ Bến, lòng đường rộng 9,833m. Lấy cột mốc H8/441 làm mốc cố định. Lấy mép đường bên phải hướng Thanh Hóa đi X làm mép đường chuẩn. Kết quả thực nghiệm như sau:
- Vị trí đánh số 1: Dấu vết máu của nạn nhân trên diện 0,9 x 0,62 cm.
- Vị trí đánh số 2: Xe mô tô biển kiểm soát 29AE-042.33 sau tai nạn đổ nghiêng sang bên phải, dọc trục đường, đầu xe hướng Thanh Hoá, đuôi xe hướng Xuân Mai.
- Vị trí đánh số 3: Khu vực mũ bảo hiểm, mảnh vỡ xe mô tô, dép của 02 người trên xe mô tô trên diện 1,75 x 1,38m.
- Vị trí đánh số 4: Vết trượt lốp diện 2,05 x 0,05m (xác định là vết phanh của phương tiện khác, không liên quan đến vụ tai nạn giao thông).
- Vị trí đánh số 5: Dép bên phải của người ngồi trên xe mô tô.
- Vị trí đánh số 6: Dép bên trái của nạn nhân.
- Vị trí đánh số 7: Dép bên phải của nạn nhân.
- Vị trí A xác định là điểm va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 29AE-042.33 với nạn nhân. Từ điểm va chạm (vị trí A) đến: Mốc chuẩn là 32,3m; Mép đường chuẩn là 3,916m; T đường là 1,0m; Đến vị trí số 1 là 21,90m; Đến vị trí số 2 (trục trước xe mô tô) là 25,1m; Đến vị trí số 5 là 15,1m; Đến vị trí số 6 là 8,75m; Đến vị trí số 7 là 2,80m.
Ngày 27/9/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của ông Phùng Đức C. Tại bản kết luận giám định tử thi số 507/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 02/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hoà Bình kết luận: Nạn nhân chết do suy đa phủ tạng/ đa chấn thương.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSLS ngày 04/3/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn đã truy tố Lê Phi H về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Lê Phi H một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng, không kêu oan.
* Đối với bà Đỗ Thị Hiên N2 là người đại diện hợp pháp của bị hại, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Đức C. Bà N2 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của bà N2 có trong giai đoạn điều tra, truy tố thể hiện: Về vụ việc bị cáo Lê Phi H đã gây ra tai nạn giao thông ngày 26/8/2024 làm cho ông Phùng Đức C là chồng của bà N2 bị thương nặng và chết vào ngày 27/9/2024. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và gia đình của bị cáo đã đến thăm hỏi, động viên và tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại được tổng số tiền là 153.000.000 (Một trăm năm mươi ba triệu) đồng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nữa.
* Ý kiến của bị hại Đào Thị Tuyết N1: Về sự việc bị cáo Lê Phi H là chồng của chị N1 đã gây ra tai nạn giao thông ngày 26/8/2024 đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã nêu. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, chị N1 cũng bị xây sát nhẹ ở mắt cá chân phải, tay phải. Chị N1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vì bị cáo là chồng của chị N1 và hiện nay hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn. Chị N1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Phi H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; xử phạt bị cáo 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách 60 tháng.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Trả lại cho bị cáo Lê Phi H chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29AE-042.33.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen của bị cáo Lê Phi H, 01 mũ bảo hiểm màu xanh của chị Đào Thị Tuyết N1 và 01 áo mưa màu xanh (dạng áo đôi) của vợ chồng bị cáo. Các tài sản này đều đã hư hỏng do tai nạn giao thông.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Phùng Đức C được tổng số tiền là 153.000.000 (Một trăm năm mươi ba triệu) đồng, bao gồm tiền viện phí, chi phí mai táng và một số chi phí khác. Về phía người đại diện của bị hại Phùng Đức C không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nữa, nên không xét đến.
Đối với chị Đào Thị Tuyết N1 là người ngồi sau xe mô tô do bị cáo điều khiển. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, chị N1 cũng bị xây sát nhẹ. Chị N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, nên không xét đến.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Các ý kiến tranh luận: Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại Phùng Đức C vì bị cáo đã gây ra tai nạn giao thông, làm cho ông C tử vong. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, bố chết sớm, bản thân bị cáo tự thân lập nghiệp. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về chứng cứ kết tội bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn thu thập hợp pháp gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 26/8/2024; Biên bản khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 29AE-042.33 ngày 01/9/2024; Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 30/10/2025; Kết luận giám định tử thi số 507/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 02/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đối với nạn nhân Phùng Đức C; Các biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, truy tố và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa.
Xét thấy, lời khai của bị cáo Lê Phi H trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô gây tai nạn giao thông và biên bản thực nghiệm điều tra. Được chứng minh bằng các vật chứng thu được, kết luận giám định tử thi của bị hại cùng toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/8/2024, bị cáo Lê Phi H là người không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 29AE-042.33, có dung tích xi lanh 109,5 cm3, chở phía sau là chị Đào Thị Tuyết N1 (Vợ của bị cáo) đi trên đường Hồ Chí Minh, hướng Hòa Bình - Hà Nội. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô đến Km 441+800 thuộc địa phận thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình, do không chú ý quan sát nên khi phát hiện thấy ông Phùng Đức C đang đi bộ sang đường, từ phải sang trái theo hướng Hòa Bình - Hà Nội do không xử lý kịp nên đã đâm vào ông Phùng Đức C. Hậu quả, ông Phùng Đức C bị thương nặng và chết vào ngày 27/9/2024. Còn chị Đào Thị Tuyết N1 bị xây sát nhẹ ở mắt cá chân phải, tay phải.
Hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định và điều khiển xe trong điều kiện không đảm bảo an toàn giao thông đường bộ như: Điều khiển xe mô không làm chủ tốc độ trong thời tiết có mưa to, trời tối, hai bên đường không có đèn chiếu sáng; đèn chiếu sáng của xe mô tô không bảo đảm, do bị áo mưa trùm kín; tầm nhìn bị hạn chế, là vi phạm quy định tại khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Xét bị cáo Lê Phi H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người. Hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ mà bị cáo Lê Phi H đã thực hiện nêu trên có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên là nghiêm trọng, đã xâm hại đến các quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả làm 01 người chết.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại được tổng số tiền là 153.000.000 (Một trăm năm mươi ba triệu) đồng. Về phía bị hại, người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định và có nhân thân tốt. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Phi H đã bồi thường cho gia đình bị hại Phùng Đức C được tổng số tiền là 153.000.000 (Một trăm năm mươi ba triệu) đồng, bao gồm tiền viện phí, chi phí mai táng và một số chi phí khác. Về phía người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nữa, nên không xét đến.
Đối với chị Đào Thị Tuyết N1 là người ngồi sau xe mô tô do bị cáo điều khiển. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, chị N1 cũng bị xây sát nhẹ ở mắt cá chân phải, tay phải. Do chị N1 với bị cáo là vợ chồng, nên chị N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, vì vậy không xét đến.
Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29AE-042.33. Chiếc xe này thuộc sở hữu của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.
Đối với một mũ bảo hiểm màu đen của bị cáo, một mũ bảo hiểm màu xanh của vợ bị cáo và một áo mưa màu xanh (dạng áo đôi) của vợ chồng bị cáo. Các tài sản này đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông, không còn giá trị sử dụng. Về phía bị cáo và vợ của bị cáo không lấy lại các tài sản này, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lê Phi H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Xử phạt bị cáo Lê Phi H 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 31/3/2025).
Giao bị cáo Lê Phi H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại bị cáo Lê Phi H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, biển kiểm soát 29AE-042.33, số khung RLHJK0356RY021875, số máy JK03E3327539, màu sơn xám đen, (Xe cũ, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm (dạng mũ trùm đầu), màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Phi H; 01 (một) mũ bảo hiểm (dạng mũ trùm đầu), màu xanh, đã qua sử dụng của chị Đào Thị Tuyết N1; 01 (một) áo mưa màu xanh (dạng áo đôi) đã qua sử dụng của vợ chồng bị cáo. Các tài sản này đều đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Phi H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm. Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo cùng thời hạn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lương Sơn; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - UBND xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện của bị hại: - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Mạnh |