vanban.org

Bản án 21/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh Á được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Minh Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn N vì chị Nguyễn Thị Minh Á chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Văn N được quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh Á được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2025
“Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và bà Trần Thị Thanh Hương.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh Á, sinh năm 2003, vắng mặt.

Địa chỉ: K, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2000, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn I, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh Á trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn vào ngày 18/7/2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thị xã H. Đến tháng 10/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do xuất phát từ kinh tế, chồng đánh bài bạc, tài xỉu, không chăm lo làm ăn, bỏ bê vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị. Nếu ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung trên và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản xác minh ông Lê Văn T thôn trưởng thôn 9, xã Q cung cấp: Chị Nguyễn Thị Minh Á và anh Nguyễn Văn N kết hôn ngày 18/7/2022 trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, mâu thuẫn trong tiền bạc kinh tế, anh N không quan tâm lo lắng cho vợ con. Chị Á đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 3/2023 đến nay.

Về con chung: Vợ chồng chị Á, anh N có 01 con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị Á. Từ trước đến nay con chung do chị Á nuôi dưỡng vẫn đảm bảo. Anh N, chị Á không có hiện tượng bạo hành con. Anh N làm nghề tự do thu nhập bao nhiêu thì ông không biết. Chị Á làm nghề gì thu nhập bao nhiêu thì ông không biết.

Biên bản xác minh ông Nguyễn Văn T1; địa chỉ: thôn I, xã Q cung cấp: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn N. Ông có nhận được thông báo thụ lý vụ án số 20 ngày 17/02/2025 và Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số 89 ngày 17/02/2025. Ông đã thông báo cho anh Nguyễn Văn N biết việc chị Nguyễn Thị Minh Á nộp đơn ly hôn và các văn bản đã nhận cho anh Nguyễn Văn N biết. Chị Nguyễn Thị Minh Á và anh Nguyễn Văn N kết hôn ngày 18/7/2022 trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, mâu thuẫn trong tiền bạc kinh tế, anh N không quan tâm lo lắng cho vợ con. Chị Á đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 3/2023 đến nay.

Về con chung: Vợ chồng chị Á, anh N có 01 con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị Á. Từ trước đến nay con chung do chị Á nuôi dưỡng vẫn đảm bảo. Anh N, chị Á không có hiện tượng bạo hành con. Anh N vẫn chu cấp cho con chung.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai phát biểu như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh Á. Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị Minh Á được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị Minh Á trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N vì chị Á chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Văn N được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Minh Á không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh Á phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Minh Á yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Nguyễn Văn N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn đăng ký thường trú tại thị xã H, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn vẫn không trình bày ý kiến, đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử 02 lần vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Minh Á và anh Nguyễn Văn N được UBND xã Q, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/7/2022 tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng sống không hạnh phúc, tính cách không phù hợp, mâu thuẫn trong kinh tế, anh N không quan tâm lo lắng cho vợ con. Từ khi mâu thuẫn cho đến nay gia đình hai bên tích cực khuyên bàn vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Á và anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Minh Á yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N là có cơ sở nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị Á, anh N có 01 con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022. Hiện nay con chung đang ở với chị Á. Từ trước đến nay con chung do chị Á nuôi dưỡng vẫn đảm bảo. Vì vậy, cần giao cho chị Nguyễn Thị Minh Á trực tiếp nuôi dưỡng con chung trên là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn N vì chị Nguyễn Thị Minh Á chưa yêu cầu. [4] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Minh Á không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 81, 82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh Á được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Minh Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Nhật V, sinh ngày 11/11/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn N vì chị Nguyễn Thị Minh Á chưa yêu cầu. Anh Nguyễn Văn N được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Minh Á không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh Á phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004337 ngày 17/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ