- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-04-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Ngọc Cúc;
Bà Phan Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 464/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Tổ C, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Hồ Sềnh S, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Tổ C, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Bà N - có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S - vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn ly hôn và các bản tự khai nguyên đơn là bà Phạm Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Hồ Sềnh S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 100 ngày 20/9/2003. Vợ chồng chung sống hạnh phúc tới năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống từ đó dẫn tới vợ chồng thường hay có lời qua tiếng lại, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Bà và ông S đã cố gắng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì ly thân cho tới nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Sềnh S.
Về con chung: Bà N xác định, bà và ông Hồ Sềnh S có 02 con chung tên Hồ Phát M, sinh ngày 10/8/2004 và Hồ Phát H, sinh ngày 09/3/2014. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và yêu cầu ông S cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng cho tới khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Đối với cháu M đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N xét thấy có đủ khả năng kinh tế nên thay đổi yêu cầu cấp dưỡng, cụ thể: bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Bà N trình bày, tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Sềnh S:
Đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà N được ly hôn với ông S; Về con chung: Giao cháu H cho bà N trực tiếp chăm sóc, tạm thời, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con, cháu M đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này, tách ra giải quyết sau nếu đương sự có yêu cầu; Về án phí: bà N phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về tố tụng:
. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo bản “Xác nhận thông tin về cư trú” ngày 10/10/2024 của Công an xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai thì ông Hồ Sềnh S đang sinh sống tại: tổ C, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
. Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông S vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
. Về nội dung vụ án:
. Quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N1 và ông Hồ Sềnh S kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp Giấynhận kết hôn số 100 ngày 20/9/2003. Căn cứ vào Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, hôn nhân giữa bà bà N1, ông S là hôn nhân hợp pháp.
Theo bà N1, sau khi kết hôn bà và ông S chung sống hạnh phúc tới năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn tới vợ chồng thường hay có lời qua tiếng lại làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Bà và ông S đã cố gắng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì ly thân cho tới nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S. Theo kết quả xác minh ngày 10/01/2025 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai thì thời gian đầu bà N1, ông S chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không biết do không có ai yêu cầu hòa giải, hiện nay bà N1, ông S đang sống ly thân. Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập làm việc, tiến hành hòa giải theo quy định nhưng ông S vắng mặt và không có lời trình bày, bà N1 đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, có cơ sở chứng minh bà N1 đã cương quyết ly hôn, ông S bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm, hàn gắn gia đình.
Từ những nhận định trên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N1 và ông S là có thật. Hôn nhân giữa bà N1 với ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà N1 được ly hôn ông S.
. Về con chung: Bà N1 xác định, bà và ông S có 02 con chung tên Hồ Phát M, sinh ngày 10/8/2004 và Hồ Phát H, sinh ngày 09/3/2014. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và yêu cầu ông S cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho tới khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Đối với cháu M đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N1 thay đổi yêu cầu giải quyết về con chung, tạm thời không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Hồ Sềnh S không có mặt tại Tòa án khi Tòa triệu tập, cũng không có lời khai trình bày ý kiến về con chung.
Xét thấy, việc bà N1 thay đổi yêu cầu, tạm thời không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Hiện nay, cháu H đã trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được ở với bà N1. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Hồ Phát H, sinh ngày 09/3/2014 cho bà N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm thời, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Đối với cháu Hồ Phát M, sinh ngày 10/8/2004 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về tài sản chung và nợ chung:
Bà N1 xác định bà và ông S tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà N1 xác định bà và ông S không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với tài sản chung, nợ chung. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi đương sự có yêu cầu.
. Về án phí: Bà N1 phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị N được ly hôn với ông Hồ Sềnh S.
2. Về con chung: Cháu Hồ Phát M, sinh ngày 10/8/2004 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Giao cháu Hồ Phát H, sinh ngày 09/3/2014 cho bà Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạm thời, ông Hồ Sềnh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ việc khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009972 ngày 04/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Đương sự đã nộp xong án phí.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Nơi cấp Giấy chứng nhận kết hôn; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Công |