- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa H và D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Đinh Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/HNGĐ-ST Ngày 26/02/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quán Vi Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ÔngVi Văn Hậu
Ông Vi Văn Bốn
Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 146/2024/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An
(Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Hiện nay anh Đinh Văn D chấp hành án tại đội Mộc, phân trại số B, trại giam S, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An).
(Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày: Chị H và anh Đinh Văn D kết hôn vào ngày 06/01/2012, đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống nên thường hay cãi cọ, xích mích lẫn nhau. Anh Dũng sa vào nghiện hút, hiện nay anh D đang chấp hành án phạt tù tại đội M, phân trại số B, trại giam S, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có tương lai nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh D được ly hôn.
Chị H1 anh D có 02 con chung là Đinh Thị Linh N, sinh ngày 19/06/2012 và Đinh Văn Bảo K, sinh ngày 12/8/2014. Ly hôn, chị H yêu cầu được giao nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Chị H và anh D tự chia tài sản được cho nhau, do đó chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Chị H và anh D không có khoản nợ gì chung.
Đối với bị đơn anh Đinh Văn D, hiện nay đang chấp hành án tại đội Mộc, phân trại số B, trại giam S, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An có bản tự khai như sau: Anh D1 và chị H đăng ký kết hôn ngày 06/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh D1 và chị H sau khi kết hôn không có mâu thuẫn, cả hai chung sống với nhau cho đến khi anh D1 bị bắt và phải chấp hành án phạt tù. Anh Dũng vẫn còn tình cảm, tuy nhiên nếu chị H cương quyết ly hôn, anh D1 cũng không níu kéo, anh D1 đồng ý ly hôn chị H. Anh D1 và chị H có hai con chung là Đinh Thị Linh N, sinh ngày 19/06/2012 và Đinh Văn Bảo K, sinh ngày 12/8/2014. Anh Dũng có nguyện vọng nuôi con chung không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D1. Anh Dũng không yêu cầu giải quyết tài sản chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử: Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Đinh Văn D;
Về con chung: Buộc anh Đinh Văn D giao con chung Đinh Thị Linh N, sinh ngày 19/06/2012 và Đinh Văn Bảo K, sinh ngày 12/8/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành;
Về tài sản: Chị H, anh D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đinh Văn D có hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Đinh Văn D trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện thì anh Đinh Văn D vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, chị Đinh Thị H, anh Đinh Văn D có đơn xin vắng mặt nên cần căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt đối với Đinh Thị H và anh Đinh Văn D.
Về hôn nhân: Chị H và anh Đinh Văn D kết hôn vào ngày 06/01/2012, đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của chị Đinh Thị H và anh Đinh Văn D đảm bảo về điều kiện kết hôn và được đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh D sống chung không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm. Anh Dũng sa vào tệ nạn, nghiện ngập. Hiện nay, anh D đang chấp hành án tại đội Mộc, phân trại số B, trại giam S, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc tương lai không có và không thể tiếp tục cuộc sống chung cùng nhau. Anh Dũng cũng có ý kiến thống nhất ly hôn chị H. Như vậy có căn cứ cho chị H được ly hôn anh D theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung Đinh Thị Linh N, sinh ngày 19/06/2012 và Đinh Văn Bảo K, sinh ngày 12/8/2014. Hiện nay con chung do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn, anh D và chị H có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, chị H có việc làm và thu nhập ổn định, có các điều kiện đảm bảo cho việc chăm sóc, giáo dục con. Các con chung cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, anh D đang chấp hành án tại Trại giam S, xã N, huyện T. Do đó, căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung, chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu Đinh Thị Linh N và cháu Đinh Văn B K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời gian giao nuôi con kể từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đinh Văn D.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Đinh Văn D.
Về con chung: Buộc anh Đinh Văn D giao con chung Đinh Thị Linh N, sinh ngày 19/06/2012 và Đinh Văn Bảo K, sinh ngày 12/8/2014 cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 02/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đinh Văn D. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), số tiền trên được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Đinh Thị H đã nộp theo biên lai thu số 0006249 ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn,bị đơn.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Nghệ An -VKSND huyện Quỳ Hợp; - THADS huyện Quỳ Hợp; - Các đương sự; - UBND xã Yên Hợp; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quán Vi Tuấn |