- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng chính sách U Minh Thượng và bà Nguyễn Thị Nhanh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 217, Điều 273…
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 18-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tám
2. Ông Nguyễn Hoàng Hổ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng: Vụ án không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2024/TLST- DS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS, ngày 27/02/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS ngày 27/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Trụ sở chính: Số 169, phố L, phường H, quận M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, chức vụ Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1967 (có mặt)
Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Kênh Sáu, xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/05/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên trình bày:
Ngày 07/3/2017 Bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện U Minh Thượng với tổng số tiền vay là 30.000.000 đồng theo chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, thời hạn vay là 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 07/03/2022. Lãi suất vay là 0,75%/tháng. Lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay. Kỳ hạn trả nợ là 12 tháng/lần, số tiền trả nợ là 6.000.000 đồng/lần. Khi đến hạn trả nợ bà Nguyễn Thị Nh và Nguyễn Mỹ Ân không trả nợ cho Ngân hàng theo sổ vay vốn. Ngày 28/3/2024 cán bộ tín dụng của Ngân hàng C huyện U Minh Thượng phối hợp cùng với Tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn có đến làm việc với bà Nguyễn Thị Nh thì bà Nh cam kết đến tháng 05/2026 sẽ trả dứt điểm nợ gốc và lãi cho Ngân hàng chính sách, đại diện Ngân hàng chính sách có ý kiến là không thống nhất và yêu cầu bà Nguyễn Thị Nh chậm nhất là đến ngày 31/3/2024 phải thanh toán dứt điểm nợ gốc và lãi cho Ngân hàng C nhưng đến nay bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng C yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc là: 30.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 18/3/2025 là 10.240.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 40.240.000 đồng, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn Bà Nguyễn Thị Nh trình bày: Bà Nguyễn Thị Nh thừa nhận lời trình bày của đại diện Ngân hàng C là đúng. Ngày 07/3/2017 bà Nguyễn Thị Nh và con gái là bà Nguyễn Mỹ A có vay vốn của Ngân hàng C huyện U Minh Thượng với số tiền là 30.000.000 đồng. Gia đình đang khó khăn, hiện tại bà Nh đang thuê đất để trồng khóm nên hẹn đến tháng 12/2025 bà Nh sẽ trả tiền lãi, còn tiền gốc thì khoảng 20 tháng sau (đến tháng 08/2027) bà Nh sẽ trả cho Ngân hàng. Con gái bà Nh là bà Nguyễn Mỹ A biết việc Ngân hàng khởi kiện, nhưng do bà Nguyễn Mỹ A mới sanh con nên không đến dự phiên tòa.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ:
- Tài liệu nguyên đơn Ngân hàng chính sách cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 24/5/2025; Đơn xác nhận nơi cư trú của bị đơn; Biên bản làm việc của Ngân hàng chính sách với bà Nguyễn Thị Nh ngày 28/3/2024; Sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu hồi – dư nợ; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 03/3/2017; Giấy ủy quyền ngày 23/02/2017 của các thành viên trong gia đình bà Nh ủy quyền cho bà Nh; Giấy ủy quyền của Ngân hàng chính sách ngày 27/5/2020.
- Tài liệu bị đơn cung cấp: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Đồng bị đơn bà Nguyễn Mỹ A được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Nh trình bày là bà Nguyễn Mỹ A (con gái bà Nh) biết việc Ngân hàng chính sách khởi kiện và Tòa án triệu tập xét xử, nhưng do bà Nguyễn Mỹ A mới sanh con nên không đến tham dự phiên tòa được. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng C (Phòng giao dịch huyện U Minh Thượng) với bị đơn bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Cụ thể Nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C huyện U Minh Thượng số tiền vay gốc là: 30.000.000 đồng, tiền lãi đến ngày 18/3/2025 là 10.240.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 40.240.000 đồng, đồng thời yêu bà Nh và bà Ân phải chịu lãi cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng chính sách.
. Xét về nội dung tranh chấp:
Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Nh thừa nhận ngày 07/3/2017 bà Nguyễn Thị Nh và con gái là bà Nguyễn Mỹ A có vay vốn của Ngân hàng C huyện U Minh Thượng theo chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn với số tiền vay là 30.000.000 đồng. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đến nay bà Nh và bà Ân chưa trả được nợ cho Ngân hàng chính sách. Bà Nh hẹn đến tháng 12/2025 sẽ trả tiền lãi cho Ngân hàng chính sách, sau đó khoảng 20 tháng sẽ trả nợ gốc cho Ngân hàng.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng chính sách là bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên không đồng ý yêu cầu bà Nh và bà Ân chậm nhất là đến hết tháng 12/2025 phải thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng chính sách, không đồng ý theo ý kiến của bà Nh.
Qua ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị Nh thừa nhận ngày 07/3/2017 bà Nguyễn Thị Nh và con gái là bà Nguyễn Mỹ A có vay vốn của Ngân hàng C huyện U Minh Thượng theo chương trình hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn với số tiền vay là 30.000.000 đồng, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 07/03/2022, nhưng từ khi vay đến nay bà Nh và bà Ân không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách, hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 07/03/2022, tuy nhiên đến nay đã quá hạn hơn 03 năm nhưng bà Nh và bà Ân không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, Ngân hàng C (Phòng giao dịch huyện U Minh Thượng) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải trả số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày 18/3/2025 với tổng số tiền 40.240.000 đồng là có ở sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C (phòng giao dịch huyện U Minh Thượng số tiền) số tiền vay gốc là 30.000.0000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 18/3/2025 là 10.240.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 40.240.000 đồng. Ngoài số tiền trên bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A còn phải tiếp tục chịu tiền lãi từ ngày 19/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng C theo mức lãi suất đã thỏa thuận với Ngân hàng chính sách trong hồ sơ vay vốn.
. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải chịu tiền án phí là 2.012.000 đồng (hai triệu không trăm mười hai nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 217, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C (Phòng giao dịch huyện U Minh Thượng) số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày 18/3/2025 là 40.240.000 đồng (trong đó tiền vay gốc là 30.000.000 đồng, tiền lãi là 10.240.000 đồng).
Ngoài số tiền trên, buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng C (phòng giao dịch U Minh Thượng) số tiền lãi phát sinh từ ngày 19/3/2025 đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng C theo mức lãi suất đã thỏa thuận với Ngân hàng chính sách trong hồ sơ vay vốn.
3. Về án phí dân: Buộc bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Mỹ A phải chịu tiền án phí là 2.012.000 đồng (hai triệu không trăm mười hai nghìn đồng).
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát ND huyện U Minh Thượng; - Chi cục Thi hành án DS huyện U Minh Thượng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Khanh |