vanban.org

Bản án 21/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Huỳnh Thị H.

Buộc bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L phải trả cho bà Huỳnh Thị H tổng số tiền 49.855.500 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng), trong đó tiền gốc là 45.000.000 đồng và tiền lãi là 4.855.500 đồng. Bà Huỳnh Thị H phải trả lại cho ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L giấy c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huỳnh Thị Hợp - Biện Thị Lệ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Huỳnh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/DS-ST
Ngày 13-8-2025
V/v “Tranh chấp H đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hướng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hoa

Bà Nguyễn Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Công Bình – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực A – Khánh Hoà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A – Khánh Hoà tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Hiền – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực A – Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp H đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn P, xã H, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Biện Thị L, sinh năm 1957 và ông Hồ Văn T, sinh năm 1956

Địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Ngày 22/7/2022 (âm lịch), bà Biện Thị L và ông Hồ Văn T vay của bà số tiền 50.000.000 đồng, hẹn 3 tháng sau trả lại nhưng đến hạn vẫn không trả. Khi vay, ông T và bà L thế chấp cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 813369 do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 12/7/2022. Đến ngày 06/02/2024, vợ chồng bà L, ông T chốt lại số nợ gốc và lãi là 60.000.000 đồng và hứa trả ngày 30/4/2024 (âm lịch), nhưng sau đó ông bà chỉ trả được 15.000.000 đồng. Hiện tại còn nợ là 45.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu bà L và ông T trả cho bà số tiền nợ gốc 45.000.000 đồng và nợ lãi tính từ tháng 6/2024 đến tháng 7/2025 là 13 tháng x 0,83% x 45.000.000 đồng là 4.855.500 đồng.

2. Ý kiến của bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L có trong hồ sơ:

Ông bà xác định trước đây có vay của bà Huỳnh Thị H số tiền 50.000.000 đồng, không nhớ chính xác thời gian vay, khi vay ông bà có thế chấp cho bà H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất viên gia của gia đình. Sau đó chốt nợ gốc lãi là 60.000.000 đồng. Tại thời điểm bà H đến nhà ông bà chốt nợ thì có con trai của ông bà là Hồ Văn T1 nên T1 ký lại giấy nợ và nói để trả thay cho ông bà, chứ số nợ này không liên quan đến T1.

Sau đó vợ chồng ông bà đã trả cho bà H 25.000.000 đồng nhưng giấy tờ thất lạc chỉ còn giữ tờ giấy trả 15.000.000 đồng. Ông bà xác định hiện tại còn nợ bà H 45.000.000 đồng và xin trả vào tháng 11/2025 và đồng ý trả tiền lãi 0,83% theo yêu cầu của bà H.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa, có cơ sở xác định bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L còn nợ bà Huỳnh Thị H số tiền 45.000.000 đồng nhưng không trả theo thỏa thuận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Toà án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông Hồ Văn T1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận số tiền vay không liên quan đến ông Thiện, do đó không đưa ông T1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L, địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Khánh Hòa trả số tiền vay 45.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp H đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án:

Theo giấy vay tiền và cam kết trả nợ ghi ngày 6 tháng 2 năm 2024 và lời khai của các đương sự, xác định vợ chồng ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L vay của bà Huỳnh Thị H số tiền 50.000.000 đồng, hiện tại còn nợ lại 45.000.000 đồng. Vợ chồng ông T đồng ý trả số tiền này cho bà H và tiền lãi 0,83%/tháng nhưng xin trả vào tháng 11/2025.

Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự thống nhất số tiền nợ 45.000.000 đồng và lãi suất 0,83% phù H với quy định Điều 468 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc 45.000.000 đồng và tiền lãi 0,83%/tháng từ tháng 6/2024 đến tháng 7/2025 là 13 tháng x 45.000.000 đồng = 4.855.500 đồng.

Bị đơn xin trả số tiền trên vào tháng 11/2025, nguyên đơn không đồng ý. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích H pháp của bà H nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, buộc ông T và bà L phải trả cho bà H 45.000.000 đồng tiền gốc và 4.855.500 đồng tiền lãi.

[4]. Về án phí:

Vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên ông T và bà L thuộc trường H người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông T và bà L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Huỳnh Thị H số tiền 1.645.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002517 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQU14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Toà án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Huỳnh Thị H.

Buộc bị đơn ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L phải trả cho bà Huỳnh Thị H tổng số tiền 49.855.500 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng), trong đó tiền gốc là 45.000.000 đồng và tiền lãi là 4.855.500 đồng.

Bà Huỳnh Thị H phải trả lại cho ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 81369 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 12/7/2022.

2. Về án phí:

Ông Hồ Văn T và bà Biện Thị L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm vì thuộc trường H người cao tuổi.

Hoàn lại cho bà Huỳnh Thị H số tiền 1.645.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002517 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường H bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ