- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Minh Thế - Ngô Khắc Vương"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2025/DS-ST Ngày: 02/6/2025 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thùy Lê và ông Trần Sáu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khiêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2025/TLST-DS, ngày 03 tháng 03 năm 2025, về“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17a/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1963
Địa chỉ: khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Danh T, sinh năm 1958. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: 73 Trần Phú, thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
- Bị đơn: Anh Ngô Khắc V, sinh năm 1982 và chị Ngô Thị Yến L, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố Trường Xuân, thị trấn Chí Thạnh, H. Tuy An, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do quen biết nên ngày 14/3/2021 anh Ngô Khắc V mượn ông Th số tiền 10.000.000 đồng, anh V viết giấy mượn tiền, hẹn trong thời gian 05 tháng sẽ trả lại tiền cho ông T. Ngày 04/8/2022 anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L tiếp tục mượn ông T số tiền 20.000.000 đồng, anh V và chị L cùng ký vào giấy giấy mượn tiền, hẹn trong thời gian 06 tháng sẽ trả lại tiền. Quá thời hạn trả nợ, ông T đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng anh V, chị L trả lại tiền nhưng không trả. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu anh V trả số tiền 10.000.000 đồng và yêu cầu vợ chồng anh V, chị L cùng liên đới trả số tiền 20.000.000 đồng. Không yêu cầu tiền lãi.
Bị đơn anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả trông tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Do quen biết nên ngày 14/3/2021 cá nhân anh Ngô Khắc V viết giấy mượn ông Nguyễn Minh T số tiền 10.000.000 đồng đến ngày 04/8/2022 vợ chồng anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L tiếp tục viết giấy mượn ông T số tiền 20.000.000 đồng. Qúa trình giải quyết nguyên đơn cung cấp giấy mượn tiền ngày 14/3/2021 có chữ ký anh Ngô Khắc V và giấy mượn tiền ngày 04/8/2022 có chữ ký vợ chồng anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L. Như vậy, có căn cứ xác định anh Ngô Khác V có mượn của ông T số tiền 10.000.000 đồng chưa trả; chị Ngô Thị Yến L và anh Ngô Khắc V có liên đới mượn ông T số tiền 20.000.000 đồng chưa trả. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
Từ những căn cứ và phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Vương phải chịu án phí trên số tiền vay phải trả 10.000.000 đồng, anh V chị L phải chịu án phí trên số tiền vay phải trả 20.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 227, 228, 238, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T.
Buộc bị đơn anh Ngô Khắc V trả cho ông Nguyễn Minh T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Buộc vợ chồng anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L liên đới trả cho ông Nguyễn Minh T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về khoản tiền vay.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Anh Ngô Khắc V phải chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản vay 10.000.000 đồng. Anh Ngô Khắc V và chị Ngô Thị Yến L phải chịu 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản vay 20.000.000 đồng. Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Minh T số tiền 500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0006678 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Tuy An; - Chi cục THADS huyện Tuy An; - TAND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |