vanban.org

Bản án 21/2024/LĐ-ST — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A có nghĩa vụ trả cho chị Võ Thị H tiền lương tháng 10/2023 là 5.892.000 đồng, tiền lương tháng 11/2023 là 3.855.000 đồng; tổng cộng 9.747.000 (chín triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng; ghi nhận chị H không yêu cầu tính lãi. Kể từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Võ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/LĐ-ST
Ngày: 16-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Trang.

2. Ông Phan Văn Thà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST-LĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm 1976, cư trú tại: tổ 1, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất – Thương mại và Dịch vụ Á Châu. Địa chỉ trụ sở: Số 86, Đường số 1, KDC C, Phường 7, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ chi nhánh: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Quang Minh, sinh năm 1970, địa chỉ: Số 4/81 Q, phường 10, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất – Thương mại và Dịch vụ A), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:

Ngày 18/6/2023, chị làm việc cho Công ty TNHH SX-TM& DV A mà không ký hợp đồng lao động. Công việc chính của chị là lựa gỗ, địa điểm làm việc tại Chi nhánh Công ty TNHH SX-TM&DV A - Nhà máy A, địa chỉ: Tổ 7, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; thời gian làm việc 08 giờ/ngày, có thể làm thêm giờ. Thoả thuận tiền lương 4.500.000 đồng/tháng nhưng thực tế cao hơn lương hợp đồng vì cộng thêm tiền cơm, tiền làm thêm giờ. Trường hợp làm thêm ngày chủ nhật tính mức lương bằng 1,5 ngày làm việc bình thường. Công ty chấm công bằng hình thức điểm danh bằng dấu vân tay công nhân. Hàng tháng, chị nhận lương bằng tiền mặt trực tiếp từ nhân sự hoặc kế toán Công ty. Khi nhận tiền lương, chị có ký nhận, giấy tờ do văn phòng giữ. Công ty không giao bảng lương cho chị mà dán bảng lương tại trụ sở Công ty cho người lao động biết. Công ty trả lương ngày 10 hàng tháng, khi giao tiền lương sẽ ghi vào tờ giấy nhỏ và giao cho chị nhưng hiện tại chị đã bỏ những giấy tờ đó.

Chị làm việc tại Công ty từ ngày 18/6/2023 đến ngày 15/12/2023 thì nghỉ việc. Lý do Công ty nợ tiền lương công nhân tháng 10, 11/2023 và ngừng hoạt động từ tháng 12/2023. Số tiền lương Công ty còn nợ cụ thể: Tháng 10/2023 là 5.892.000 đồng, tháng 11/2023 là 3.855.000 đồng; tháng 12/2023 là 1.544.000 đồng; tổng cộng 11.291.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Nay chị yêu cầu Công ty TNHH SX-TM&DV A có nghĩa vụ trả cho chị tiền lương tháng 10, 11/2023 tổng cộng 9.747.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chị rút yêu cầu khởi kiện Công ty về việc trả tiền lương tháng 12/2023 số tiền 1.544.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án theo quy định; xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, người tham gia tố tụng; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 90, Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H đối với Công ty TNHH SX-TM& DV A về “Tranh chấp hợp đồng lao động”. Buộc Công ty TNHH SX-TM& DV A trả cho chị Võ Thị H số tiền lương 9.747.000 đồng. Ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H đối với số tiền 1.544.000 đồng, của 08 ngày công tháng 12/2023. Về án phí: Công ty TNHH SX-TM& DV A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Chị Võ Thị H khởi kiện Công ty TNHH SX-TM &DV A có địa chỉ trụ sở: Số 86, Đường số 1, KDC C, Phường 7, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu trả tiền lương. Xét thấy hợp đồng lao động phát sinh từ hoạt động của chi nhánh Công ty TNHH SX–TM &DV A - Nhà máy A có địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi có chi nhánh của Công ty giải quyết tranh chấp. Căn cứ Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hợp đồng lao động, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Về nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh nhưng không đưa ra được chứng cứ. Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91; Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ việc dân sự. Bị đơn phải chịu hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Xét hợp đồng lao động, chị Võ Thị H trình bày chị làm việc cho công ty mà không ký kết hợp đồng lao động. Nguyên đơn cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ là 02 “Bảng lương CB-CNV” thể hiện chi tiết tiền lương tháng 10, 11/2023 giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH SX-TM&DV Á Châu – Nhà máy Á Châu Tây Ninh và người lao động có chữ ký của ông Cao Minh H, chị Đinh Thị Kim Th. Trong đó tại vị trí số thứ tự 98 (tháng 10), số thứ tự 76 (tháng 11) thể hiện tên người lao động Võ Thị H. Chị Th trình bày chị làm việc tại vị trí kế toán Nhà máy A thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023. Tại các biên bản làm việc giữa Bảo hiểm Xã hội huyện T với Chi nhánh Công ty TNHH SX-TM&DV A – Nhà máy A thể hiện đại diện Công ty là ông Cao Minh H– Chức vụ Phó giám đốc. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng xác định chị H có làm việc tại Nhà máy A trong bộ phận tổ lựa phôi nhưng không nhớ làm việc từ thời gian nào. Tháng 10, 11/2023 chị H còn làm việc tại Công ty. Như vậy có đủ căn cứ xác định chị H có làm việc tại Công ty TNHH SX-TM&DV A – Nhà máy A, việc giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói giữa các bên là sự thật.

Xét yêu cầu trả tiền lương: Căn cứ bảng lương do nguyên đơn cung cấp thể hiện các bên thỏa thuận mức lương cơ bản là 4.500.000 đồng/tháng (tương đương 26 ngày làm việc). Tháng 10/2023, tổng cộng 5.892.000 đồng. Tháng 11/2023, tổng cộng 3.855.000 đồng. Tổng cộng tiền lương làm việc tháng 10, 11/2023 của chị H là 9.747.000 đồng. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng xác định Chi nhánh Công ty TNHH SX-TM&DV A – Nhà máy A không hoạt động sản xuất, kinh doanh từ tháng 12/2023 và không trả lương cho người lao động từ tháng 10/2023 đến tháng 12/2023. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp, giao nộp cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Công ty TNHH SX-TM&DV A vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động, trả lương không đúng thời hạn, không trả đủ lương cho người lao động. Căn cứ các điều 90, 95, 97 của Bộ luật Lao động, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH SX-TM&DV A có nghĩa vụ trả cho chị H tiền lương còn nợ của tháng 10, 11/2023 là 9.747.000 đồng, ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H tự nguyện rút yêu cầu Công ty TNHH SX-TM&DV A trả tiền lương làm việc của tháng 12/2023 thời gian 08 ngày số tiền 1.544.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả tiền lương tháng 12/2023 của chị H.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Công ty TNHH SX-TM & DV A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Chị Võ Thị H là người lao động khởi kiện đòi tiền lương, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 13, 90, 95, 97 của Bộ luật Lao động; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 12, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A có nghĩa vụ trả cho chị Võ Thị H tiền lương tháng 10/2023 là 5.892.000 đồng, tiền lương tháng 11/2023 là 3.855.000 đồng; tổng cộng 9.747.000 (chín triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng; ghi nhận chị H không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H về việc yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A có nghĩa vụ trả tiền lương tháng 12/2023 số tiền 1.544.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất-Thương mại và Dịch vụ A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Võ Thị H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ này nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ