- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thiện Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thiện Q; sửa Bản án sơ thẩm số 185/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HS-PT Ngày 27-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 214/2023/HSPT ngày 28/12/2023 đối với bị cáo Lê Thiện Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 185/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thiện Q, sinh năm 2002 tại tỉnh Đ; Hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu phố 5, phường A, thành phố B, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Lê Thành T và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 04/7/2023 (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thiện Q là người nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 03/7/2023, Q điều khiển xe máy biển kiểm soát: 72E1- 779.43 đến khu vực chợ Mỹ Xuân thuộc khu phố Bến Đình, phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp người phụ nữ tên Trang (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) ma túy tổng hợp. Q đưa tiền cho Trang, Trang nhận tiền xong và chỉ cho Q lấy 01 (một) hộp nhựa màu xanh có dòng chữ XYLITON đang để sẵn dưới gốc cây bên lề đường, bên trong có 04 (bốn) gói ma túy. Q lấy số ma túy cất vào người rồi điều khiển xe máy đi đến nhà bạn chơi. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, Q điều khiển xe trên đoạn đường Hùng Vương thuộc khu phố Vạn Hạnh, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thì thấy lực lượng Công an phường Phú Mỹ đi tuần tra. Sợ bị phát hiện trong người đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên Q dùng tay trái lấy hộp nhựa chứa 04 (bốn) gói ma túy định ném đi thì bị lực lượng Công an phường Phú Mỹ phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Q đang cầm 01 (một) hộp nhựa màu xanh, có dòng chữ XYLITOL, bên trong có 04 (bốn) gói nylon, hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 (một) chiếc xe máy biển kiểm soát 72E1 - 779.43 và 01 (một) chiếc điện thoại di động có dòng chữ Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 343/KL-KTHS-MT ngày 12/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:
Mẫu cần giám định: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường Phú Mỹ – Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Trịnh Minh Cảnh, Trương Minh Hiển, Đỗ Tiến Tuynh, Lê Thiện Q, Lê Đức Thịnh, bên trong có 04 (bốn) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu – trong suốt (kí hiệu mẫu A). Kết luận: Mẫu A có tổng khối lượng 0,6568 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát: 72E1 - 779.43 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Trang. Ngày 03/7/2023, bà Trang cho con trai là Phạm Trần Tuấn Anh mượn. Sau đó, Tuấn Anh cho Q mượn xe trên đi công chuyện cá nhân. Việc Q sử dụng xe trên để thực hiện hành vi phạm tội, bà Trang và Tuấn Anh không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Trang theo Quyết định xử lý vật chứng số: 55/QĐ-CQCSĐT-KTMT ngày 07/8/2023.
Đối với 01 phong bì niêm phong đề số: 343/KL-KTHS-MT, ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gửi trả sau giám định (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 (một) chiếc điện thoại di động có dòng chữ Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng) đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 185/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố Lê Thiện Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt Lê Thiện Q 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/11/2023, bị cáo Lê Thiện Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án để bị cáo có mức án phù hợp và sớm được về với gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã phát biểu quan điểm đồng thời phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Qua đó Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thiện Q 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy tờ bệnh án bị bệnh hiểm nghèo, tuy nhiên tình tiết trên chưa đủ căn cứ xem xét hình phạt cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thiện Q làm và gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 03/7/2023, Lê Thiện Q điều khiển xe mô tô đến khu vực chợ Mỹ Xuân thuộc khu phố Bến Đình, phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp người phụ nữ tên Trang mua 1.200.000đ ma túy tổng hợp. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, Q điều khiển xe trên đoạn đường Hùng Vương thuộc khu phố Vạn Hạnh, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thì bị lực lượng Công an phường Phú Mỹ phát hiện và bắt quả tang thu giữ 01 hộp nhựa màu xanh, có dòng chữ XYLITOL, bên trong có 04 (bốn) gói nylon, hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt theo kết quả giám định có tổng khối lượng 0,6568 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Lê Thiện Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Cấp sơ thẩm sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã tuyên phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo; tuy nhiên tại phiên toà phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy tờ bệnh án chứng minh bị cáo bị bệnh hiểm nghèo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo và áp dụng chính sách khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thiện Q; sửa Bản án sơ thẩm số 185/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Lê Thiện Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt Lê Thiện Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2023.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm 185/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/02/2024).
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Trại tạm giam –Công an tỉnh BR-VT; - Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |