vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Đức N cho UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS - ST
Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Cường và bà Tô Thị Thanh Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 24/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 39/QĐXXST

- HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Đức N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08 tháng 6 năm 1994; Tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Đức D, sinh năm 1972; Họ tên mẹ: Hồ Thị L, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1960 (Đã chết).

Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện của bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, có mặt.

Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Đức D, sinh năm 1972, có mặt.

Địa chỉ: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 10/02/2024, Trần Đức N điều khiển xe ô tô biển số 37A – 287.25 trên Quốc lộ A hướng Hà Nội đi thành phố V (Nghệ An). Khi gần đến đoạn qua Km 389+900 Quốc lộ A (ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ A và đường T) thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, N điều khiển xe ô tô di chuyển ở làn xe cơ giới ở giữa với tốc độ khoảng 50 – 60 km/h. Cùng thời điểm này, ông Nguyễn Bá S (sinh năm 1960, trú tại khối T, phường Q, thị xã H) điều khiển xe đạp di chuyển từ đường T (nằm mép phía Đông Quốc lộ A) ra đường Q và tiếp tục di chuyển qua đường (sang phía T Quốc lộ A).

Khi đi đến đoạn ngã ba giao nhau thì N không giảm tốc độ mà điều khiển xe di chuyển bình thường với tốc độ như cũ khoảng 50 – 60 km/h. Trước khi vào ngã ba Nghĩa có phát hiện thấy ông S đang đi xe đạp từ phía Đông sang phía Tây đường Quốc lộ 1A đến vị trí giữa phần đường P đường Q, cách xe Nghĩa khoảng 30m. Khi xe đạp đi đến vị trí dải phân cách mở thì còn cách xe N khoảng 15m. N nghĩ ông S sẽ nhường đường nên vẫn cho xe di chuyển bình thường ở làn xe cơ giới ở giữa mà không giảm tốc độ. Khi đi đến vị trí giữa đường thì xe đạp do ông S điều khiển không dừng lại mà vẫn di chuyển đi qua đường. N không tập trung chú ý nên không kịp xử lý dẫn đến xe ô tô do N điều khiển đã đâm trực tiếp vào xe đạp và ông S khiến ông S văng lên trên kính chắn gió xe ô tô và bị xe ô tô đẩy văng về phía trước. Hậu quả: Ông Nguyễn Bá S bị thương đi cấp cứu sau đó tử vong, xe ô tô và xe đạp hư hỏng. Biên bản đo nồng độ cồn: Vào hồi 20 giờ ngày 10/02/2024, kết quả cho thấy Trần Đức N có sử dụng chất có cồn, chỉ số nồng độ cồn: 0,794 mg/l.

Tại bản cáo trạng số 27/CT –VKS-HM, ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Trần Đức N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đó truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đề nghị: Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Đức N 24-30 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48-60 tháng tính từ ngày tuyên án.

Về Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) xe ô tô con biển số 37A – 287.25, nhãn hiệu ISUZU, màu nâu, số máy: M12346, số khung: RLETBR54F8V-603773. Tình trạng xe hư hỏng;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 031729 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5458625 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25 có giá trị đến ngày 23/5/2024;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số OTOBB23 3050716 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25 có giá trị đến ngày 16/8/2024;

- 01 (Một) xe đạp màu đen, loại xe nữ, có giỏ xe màu đen, số khung: TD343468. Tình trạng xe hư hỏng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại xe ô tô biển số 37A – 287.25 và giấy tờ liên quan nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Đức D (sinh năm 1972, trú tại khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An); trả lại xe đạp cho gia đình bị hại Nguyễn Bá S là đúng pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo Trần Đức N 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 400149011170 mang tên Trần Đức N, có giá trị đến ngày 13/01/2031. Hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.

- 01 (Một) thẻ nhớ chứa 02 (hai) đoạn video ghi nhận nội dung liên quan đến vụ tai nạn được niêm phong theo quy định, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án. Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Đức N và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Bá S số tiền 205.000.000 đồng (Hai trăm linh năm triệu đồng), bao gồm chi phí điều trị, mai táng, tổn thất tinh thần và vật chất. Gia đình bị hại Nguyễn Bá S không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự gì thêm nên miễn xét.

Ông Nguyễn Bá S đã sử dụng chất kích thích (nồng độ cồn trong máu là 164,6mg/100ml) nhưng vẫn điều khiển xe đạp tham gia giao thông, di chuyển qua đường Q thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên dẫn đến va chạm với xe ô tô của Trần Đức N điều khiển gây tai nạn giao thông. Hành vi của Nguyễn Bá S vi phạm quy định tại khoản 8, Điều 8 và khoản 3, Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Sau tai nạn, ông Nguyễn Bá S đã tử vong.

Đối với anh Trần Đức D (Bố đẻ Trần Đức N) là chủ xe ô tô biển số 37A – 287.25, giao xe ô tô cho Trần Đức N điều khiển khi N đã có giấy phép lái xe đúng quy định và tại thời điểm N chưa sử dụng rượu, bia. Do vậy, anh Trần Đức D không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, sơ đồ bản ảnh hiện trường, kết luận pháp y và kết luận luận giám định hiện trường tai nạn; Có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 10/02/2024, Trần Đức N có giấy phép lái xe hợp lệ nhưng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn 0,794mg/L khí thở), điều khiển xe ô tô biển số 37A – 287.25 trên Quốc lộ A hướng từ Hà Nội đi thành phố V (Nghệ An). Khi đến đoạn qua Km 389+900 Quốc lộ A (ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ A và đường T) thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (có biển báo hiệu: giao nhau đường không ưu tiên, nơi người đi bộ qua đường, được phép quay đầu xe), mặc dù đã phát hiện xe đạp do ông Nguyễn Bá S (sinh năm 1960, trú tại khối T, phường Q, thị xã H) điều khiển đang qua đường là nguồn nguy hiểm phía trước nhưng Trần Đức N điều khiển xe ô tô vẫn thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ an toàn, không kịp xử lý phanh dừng xe dẫn đến va chạm vào xe đạp gây tai nạn giao thông, đã vi phạm quy định tại khoản 8, Điều 8 và khoản 1, Điều 11 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm ông Nguyễn Bá S bị tử vong.

Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Trần Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Quá trình phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng do không chấp hành pháp luật nên đã gây ra hậu quả làm chết người.

[3] Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và gây ra tổn thất tinh tinh thần cho người thân bị hại. Tai nạn giao thông hiện nay là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, thiệt hại về người nên cần thiết phải xử phạt nghiêm bị cáo, để răn đe giáo dục người phạm tội nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường gần toàn bộ thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo được UBND thành phố H tặng bằng khen trong quá trình chống dịch Covid 19 và tặng Huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh vì có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ thành phố, Ban chấp hành đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh T tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong hoạt động xung kích tình nguyện tham gia phòng chống dịch covid 19 năm 2021 và tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên năm học 2021-2022, được Ban chấp hành Đảng bộ trường Đại học Y tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác Hội và phong trào sinh viên nhiệm kỳ 2020-2023 quy định tại điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Đức N và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Bá S số tiền 205.000.000 đồng (Hai trăm linh năm triệu đồng), bao gồm chi phí điều trị, mai táng, tổn thất tinh thần và vật chất. Gia đình bị hại Nguyễn Bá S không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự gì thêm nên miễn xét.

[6] Vật chứng vụ án:

- 01 (Một) xe ô tô con biển số 37A – 287.25, nhãn hiệu ISUZU, màu nâu, số máy: M12346, số khung: RLETBR54F8V-603773. Tình trạng xe hư hỏng;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 031729 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5458625 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25 có giá trị đến ngày 23/5/2024;

- 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số OTOBB23 3050716 cho xe ô tô biển số 37A – 287.25 có giá trị đến ngày 16/8/2024;

- 01 (Một) xe đạp màu đen, loại xe nữ, có giỏ xe màu đen, số khung: TD343468. Tình trạng xe hư hỏng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại xe ô tô biển số 37A – 287.25 và giấy tờ liên quan nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Đức D (sinh năm 1972, trú tại khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An); trả lại xe đạp cho gia đình bị hại Nguyễn Bá S là đúng pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo Trần Đức N 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 400149011170 mang tên Trần Đức N, có giá trị đến ngày 13/01/2031. Hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án.

- 01 (Một) thẻ nhớ chứa 02 (hai) đoạn video ghi nhận nội dung liên quan đến vụ tai nạn được niêm phong theo quy định, hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án. Tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

[7] Ông Nguyễn Bá S đã sử dụng chất kích thích (nồng độ cồn trong máu là 164,6mg/100ml) nhưng vẫn điều khiển xe đạp tham gia giao thông, di chuyển qua đường Q thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên dẫn đến va chạm với xe ô tô của Trần Đức N điều khiển gây tai nạn giao thông. Hành vi của Nguyễn Bá S vi phạm quy định tại khoản 8, Điều 8 và khoản 3, Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Sau tai nạn, ông Nguyễn Bá S đã tử vong.

Đối với anh Trần Đức D (Bố đẻ Trần Đức N) là chủ xe ô tô biển số 37A – 287.25, giao xe ô tô cho Trần Đức N điều khiển khi N đã có giấy phép lái xe đúng quy định và tại thời điểm N chưa sử dụng rượu, bia. Do vậy, anh Trần Đức D không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Đức N cho UBND phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Trần Đức N 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 400149011170 mang tên Trần Đức N, có giá trị đến ngày 13/01/2031.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T; Buộc bị cáo Trần Đức N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ