vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Chí C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày 18-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Hồ Sĩ Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VT, xét xử sơ thẩm C khai vụ án Hình sự thụ lý số 360/2024/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Giang Chí C, sinh năm 1997 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: đường BT, Phường B, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Văn Ch (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1971); Tiền sự: Không.

Tiền án: 02

- Ngày 24-9-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố VT xử phạt 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù giam về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 214/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17-3-2018.

- Ngày 21-5-2020, bị Tòa án nhân dân thành phố VT xử phạt 03 (Ba) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 93/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09-5-2022.

Bị bắt ngày 14-6-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 14/6/2023, tại trước chung cư S, đường NHC, Phường M, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. C an Phường M, thành phố VT bắt quả tang Giang Chí C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng đồng thời thu giữ vật chứng và các tài sản liên quan đến vụ án.

Sau khi lập hồ sơ ban đầu, C an Phường M đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng và các tài sản đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố VT để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Giang Chí C khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 13/6/2023, có người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện rủ C đến chỗ nuôi gà của T tại đường PTh, phường MH, thành phố VT để sử dụng ma tuý, C đồng ý và bắt xe ôm đến địa chỉ trên. Khi đến nơi, C chỉ gặp hai người bạn của T đang sử dụng ma tuý đá, C gọi lại T nói cứ ngồi sử dụng ma túy trước, chút T về. Sau đó, C cùng 02 người bạn của T cùng sử dụng ma túy. Được một lúc, T gọi điện cho một người đang cùng sử dụng ma túy với C và nói mang số ma tuý ở trên bờ tường khu chuồng gà của T xuống khu vực chung cư S. Cả ba cùng đường NHC, Phường M, thành phố VT cho T nên C xin người này đi chung để về nhà. Khi C lên xe thì người bạn của T đưa gói ma túy cho C cầm. Cả hai cùng nhau đến khu vực trước chung cư S nhưng không thấy T nên C giấu gói ma tuý vào thùng xe Daihatsu đỗ ở gần đó rồi cả hai đi về hướng đường Lê Quang Đ thì nhận được điện thoại của T nói C quay lại lấy gói ma túy mang đến cho T để cùng sử dụng đồng thời T gọi taxi đón C đi lấy ma túy. Khi T đang lấy gói ma túy để trên xe Daihatsu thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ tang vật nêu trên (các bút lục điều tra từ số 51 đến số 60).

Lời khai của Giang Chí C phù hợp với chứng cứ thu thập được, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Phan Mạnh C.

Tại Bản kết luận giám định số 268/KL-KTHS-MT ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) C an tỉnh Bà Rịa – Vũng kết luận: Gói nylon chứa chất kết tinh không màu, trong suốt thu giữ của C do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 11,7143 gam.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

* Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng gồm: Gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, qua giám định có khối lượng 11,7143 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, số Imei: 867695057948290 gắn sim số 0933949683.

* Toàn bộ số vật chứng và tài sản trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố VT chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT quản lý, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 359/CT-VKS ngày 16-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT truy tố Giang Chí C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g, o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm Hình sự: Áp dụng điểm g, o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 08 (Tám) năm tù đến 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14-6-2023.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong số 354 ngày 21-7-2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và 01 (Một) chiếc khóa còng số 8.

+ Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Vivo màu đen, số Imei: 867695057948290.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 14/6/2023, trước chung cư S, đường NHC, Phường M, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cơ quan chức năng bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép 11,7143 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cùng đối tượng tên T.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g, o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT.

Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:

Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chất ma túy chứa trong 01 (Một) gói niêm phong số 354 ngày 21-7-2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, số IMEI: 867695057948290 gắn sim số 0933949683 của bị cáo, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về vấn đề khác:

Đối với hai người cùng sử dụng ma tuý với bị cáo và người tên T gọi điện cho bị cáo kêu mang ma tuý xuống chung cư S, đường NHC, Phường M, thành phố VT để cùng sử dụng, do không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g, o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

1. Tuyên bố : Bị cáo Giang Chí C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Giang Chí C 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 6 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong số 354 ngày 21-7-2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và 01 (Một) chiếc khóa còng số 8.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại Vivo màu đen, số Imei: 867695057948290.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố VT theo Biên bản giao nhận vật chứng số 98/ BB.CCTHA ngày 16 tháng 01 năm 2024).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ