vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có 02 mảnh ni lon màu trắng (mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an huyện Phù Yên với Chi cục Thi…

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có 02 mảnh ni lon màu trắng (mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an huyện Phù Yên với Chi cục Thi…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày: 24-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hải, Bà Vi Thị Kim Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên:

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên: Bà Nguyễn Thị Hân.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Hoàng Văn Đông, ông Đinh Văn Hải. Có mặt.

Ngày 24/12/2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 12/12/2024, đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh ngày 27/7/1984 tại xã HT, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã HT, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn G (đã chết) và bà Hà Thị P; có vợ là Lò Thị C (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2007; tiền án: Ngày 15/11/2022 bị Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (ngày 09/02/2024 đã chấp hành xong); tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 13/4/2018 bị Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng; ngày 09/6/2020 bị Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, tổ công tác Công an huyện Phù Yên làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã QH tiến hành kiểm tra đối với Hà Văn T đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Qua kiểm tra, Hà Văn T tự nguyện giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và khai nhận đó là Heroine của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Trong quá trình điều tra, Hà Văn T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 24/9/2024, T đi một mình đi đến chơi nhà một người đàn ông tên là E ở bản MN, xã QH. Khi gặp E, T hỏi mua ma tuý để sử dụng. E hẹn đến khu vực bờ đê bản C, xã QH để lấy ma túy. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ đến điểm hẹn rồi đưa cho E 200.000 đồng và nhận 01 gói ma túy. Sau đó, T cầm ở bàn tay trái rồi đi bộ về nhà, đi được khoảng 300m thì bị phát hiện, bắt giữ.

Ngày 24/9/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả: Vật chứng thu của Hà Văn T là 01 gói tổng khối lượng 0,186g, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định kí hiệu T1. Kết luận giám định số 1871/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La xác định: Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,186 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,186 gam; loại Heroine (Heroin). Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo: Qua xác minh ở bản MN, xã QH có người đàn ông tên là Hoàng Văn E, sinh năm 1973. Quá trình điều tra, E không thừa nhận việc bán ma tuý cho T, ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý đối với Hà Văn E.

Cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo bị cáo Hà Văn T về tội Tàng trữ phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi như nội dung bản cáo trạng. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng còn lại trong vụ án.

- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T giữ nguyên lời khai như tại Cơ quan điều tra và nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; Kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện nên vẫn mua và tàng trữ 0,186 gam Heroin để sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị phát hiện bắt giữ, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt chính và việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và 02 mảnh nilon đựng ma túy là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về đối tượng có liên quan: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông tên E ở bản MN, xã QH. Kết quả xác minh ở bản MN có người đàn ông tên là Hoàng Văn E, sinh năm 1973. Tuy nhiên, E không thừa nhận việc bán ma tuý cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo, không có chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý đối với Hà Văn E, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy bị bắt giữ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt Hà Văn T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có 02 mảnh ni lon màu trắng (mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 30 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an huyện Phù Yên với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/12/2024)./.

Cỡ chữ