- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 10 – 4 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Vui;
2. Ông Đàm Văn Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Công Trình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với:
* Bị cáo: Đỗ Đức C, sinh năm 1973 tại tỉnh Nam Định;
Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức K, sinh năm 1951 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1950. Cả hai hiện đang ở xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Vợ: Bùi Thanh H, sinh năm 1974, hiện lao động tự do ở xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 16/6/2022, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2023, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/7/2023.
Bị cáo Đỗ Đức C bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt.
* Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1955, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Đức C là người nghiện ma túy, chiều ngày 14/12/2023, C đi bộ từ nhà đến khu vực cổng làng B, xã N, huyện N hỏi mua của một người thanh niên không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi C về đến đường dong thuộc Xóm A, xã N thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của C 01 gói nhỏ, vỏ giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu M), C khai nhận là ma túy cất giấu để sử dụng cá nhân. Tổ công tác dẫn giải Đỗ Đức C về Ủy ban nhân dân xã N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 03/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K1
- Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ vỏ giấy màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,190 gam.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo Đỗ Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố như tội danh và điều luật đã nêu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Đức C từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Đỗ Đức C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 14 tháng 12 năm 2023; tại đường dong thuộc Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Đỗ Đức C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,190 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Đỗ Đức C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Hành vi của bị cáo đã gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo Đỗ Đức C là người có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 16/6/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/5/2023, bị cáo chưa được xoá án tích nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập trung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không sở hữu tài sản có giá trị. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong số 03/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của phòng K1 Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Đỗ Đức C ngày 14/12/2023, hiện không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Đức C phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 135, Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Đức C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2023.
3. Xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 03/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của phòng K1 Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định.
Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Đức C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKS nhân dân Tỉnh + huyện; - Công an huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo; - UBND xã N; - Án văn + lưu hồ sơ; - Thi hành án phạt tù. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phương |