vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự giác đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 02 ngày. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn L- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày 15 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vừ A Sinh

Ông Lù Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1991, tại: huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và nơi ở trước ngày bị bắt: BC, xã NC, huyện MA, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (đã chết) và bà Lường Thị P; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Cà Thị D; bị cáo có 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/10/2023, đến ngày 05/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lường Văn H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: BC, xã NC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (có mặt)

2. Ông Lò Văn T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Bản PH, xã MK, huyện TG, tỉnh Điện Biên. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 03/10/2023, Lò Văn L mượn xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-389.48 của Lường Văn H đi lên khu vực bản Đ, xã MĐ, huyện MA tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Đắng bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, qua trao đổi bị cáo mua được 01 gói Heroine gói bằng mảnh giấy báo có in chữ đánh máy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine bị cáo điều khiển xe về nhà, đến hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày khi về đến gần Trạm y tế xã Ngối Cáy, thuộc bản Cáy, xã Ngối Cáy thì gặp Tổ công tác Công an xã Ngối Cáy đang làm nhiệm vụ, tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do sợ bị bắt giữ bị cáo không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy, rồi tự gây đổ xe xuống đường. Tổ công tác đến vận động nên Lò Văn L tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói Heroine giao nộp cho tô công tác. Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 03/10/2023 tại Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã xác định: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L có khối lượng là 0,12 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 1466/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng vật chứng thu giữ của Lò Văn L gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,07 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKSMA ngày 20/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lường Văn H trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-389.48 là của ông Lò Văn T cho anh mượn để đi lại, khi bị cáo Lò Văn L mượn xe nói là đi mua nước ngọt nên anh không biết bị cáo Lò Văn L sử dụng xe đi mua ma túy, anh không có đề nghị hay yêu cầu gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn T trình bày: Ông là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-389.48, xe đã bị gẫy phần đầu tay phanh bên phải từ trước. Ông cho Lường Văn H mượn xe đi lại và không biết bị cáo Lò Văn L sử dụng xe của mình đi mua ma túy. Ông đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho ông chiếc xe mô tô và không yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo được khấu trừ 02 ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy báo có in chữ đánh máy, 01 đôi dép tổ ong trắng cũ đã qua sử dụng, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng loại nửa đầu cũ đã qua sử dụng; trả lại cho ông Lò Văn T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27Z1-389.48. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Người bào chữa cho bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng về việc truy tố và xét xử bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS; việc vợ bị cáo bỏ đi để bị cáo và mẹ bị cáo chăm sóc con nhỏ cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo chán nản và xa vào con đường nghiện ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên không nhất trí với quan điểm của Người bào chữa về việc vợ bị cáo bỏ đi để bị cáo và mẹ bị cáo chăm sóc con nhỏ cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo chán nản và xa vào con đường nghiện ma túy vì: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của ma túy, cũng như chính sách pháp luật hình sự của nhà nước nhưng do bị cáo ham chơi, đùa đòi và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí bản luận cứ bào chữa của Người bào chữa không có ý kiến bổ sung vào bản luận cứ. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Ngày 03/10/2023, Lò Văn L đã có hành vi cất giấu trái phép 0,12 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Với hành vi và khối lượng Heroine bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo tự giác giao nộp ma túy nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Người bào chữa đề nghị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 mảnh giấy báo có in chữ đánh máy không còn giá trị sử dụng, 01 đôi dép tổ ong trắng cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng loại nửa đầu cũ đã qua sử dụng bị cáo không yêu cầu được nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 27Z1-389.48, đã qua sử dụng là tài sản của ông Lò Văn T, ông Lò Văn T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại chiếc cho ông Lò Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Lường Văn H là người đã cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô, do không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Lò Văn T là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô, đã cho Lường Văn H mượn xe, ông Lò Văn T không biết bị cáo Lò Văn L dùng vào việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xem xét, xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Ảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên và Người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự giác đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 02 ngày.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy báo có in chữ đánh máy, 01 đôi dép tổ ong trắng cũ đã qua sử dụng, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng loại nửa đầu cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho ông Lò Văn T 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 27Z1-389.48, số khung RLHJA3845NY140905, số máy JA52E- 0447666, xe cũ đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2023 giữa Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/01/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/01/2024).

Cỡ chữ